FANDOM



Có đặt dưới góc độ nào thì khiếu ca hát của Muoru cũng đang khiếm khuyết trầm trọng.

Một mình trong khi vung cây xẻng của hắn, Muoru bập bõm hát vài bài ca, từ những thứ giống như những giai điệu phổ biến mà hắn được nghe trên đài cho đến vài đoạn trong những khúc quân hành của hắn. Và vì không ai có thể nghe thấy mình, hắn hát theo cái cách mình muốn; thế nên, giọng của hắn bị lệch tông và đôi lúc hắn thậm chí còn bịa lời.

Dù giọng hắn hào sảng, nó dường như tan biến vào khu nghĩa trang cô quạnh.

Ca hát là niềm an ủi duy nhất của hắn, giúp hắn quên đi sự ghét bỏ cái ý nghĩ rằng hắn sẽ phải vất vả với những xác chết này mãi mãi. Và dù đang tiếp tục đào hố, hắn đang có tâm trạng tốt, như thể hắn đã trở về quá khứ, cụ thể hơn, là hoàn cảnh của hắn một tháng trước.

Thứ duy nhất hắn đang thiếu so với quãng thời gian ấy là mọi người để cùng nhau làm việc và một cái mũ sắt.

Hắn đã bắt đầu dần quen với cái xẻng ngắn ngủn của mình và cái vòng cổ không thể bị tách rời khỏi cổ, nhưng giờ đây hắn bắt đầu nhận ra ánh sáng nơi đỉnh đầu hắn.

Dù mình có làm gì, rõ ràng là mình có lẽ sẽ chẳng bao giờ được đụng tay vào một cái mũ sắt nữa. Một cái liếc mắt dường như không cần thiết trong khu nghĩa trang im lìm này. Thêm vào đấy nếu hắn muốn bảo vệ bản thân khỏi con quái vật nọ, một cái mũ sắt gần như sẽ không đủ. Song vì vài lý do Muoru rất thích cái mũ đó. Nó khơi gợi lại những ký ức như lần đầu tiên hắn cùng các chiến hữu trẻ tuổi của mình, tất cả xung quanh đều đồng trang lứa, chạm vào một khẩu súng trường và tự hào về những hành động đã qua, những hành động mà họ tự coi đó là anh hùng đã qua. Thế mà lúc này nhớ lại những chàng trai kia cùng đôi mắt thôi mộng mơ, hắn nhớ ra họ đều đội chiếc mũ sắt của mình vào cái ngày họ nhận được chúng, ngay cả trong lúc ngủ.

Từ lúc đó, đặc biệt là trong một tổ chức quân đội, hắn không bao giờ rời xa chiếc mũ sắt của hắn ngay mặc dù không có bóng kẻ địch trong vòng chu vi mười ki lô mét. Phải thừa nhận rằng, Muoru hiểu cảm thấy thật kỳ lạ khi cảm thấy như thế, nhưng có lẽ chiếc mũ sắt đang bảo vệ phần quan trọng nhất của cơ thể con người đã sinh ra một cảm giác an toàn và niềm hy vọng. Sau khi trở thành kẻ đào mộ, hắn xé một tờ báo thành từng mảnh và bọc nó lại quanh đầu mình trong nỗ lực ngăn chặn cơn say nắng. Vậy nhưng thứ vải mỏng dính ấy không thể nào làm hài lòng hắn.

“Quý ngài Phạm nhân, cảm ơn đã làm việc chăm chỉ.” Từ sau lưng Muoru, giọng nói của lão già vang lên cắt ngang bài hát của hắn. “Ngươi có vẻ vẫn ổn dù đã trông thấy những thứ đó.” Daribedor nhìn Muoru bằng đôi mắt ti hí, hoàn toàn như thể lão đang xem xét quyền kiểm soát của một thứ thuốc trong thí nghiệm trên người một con vật vậy.

Muoru khẽ nhăn mày. Chân phải của hắn được bao lấy bởi một cái băng gạc nom vàng khè và bẩn, thấm đẫm chất lỏng cơ thể rỉ ra từ vết thương của hắn...

Rồi hắn nhớ tới cô gái nằm dưới đôi tay của hắn sau khi hắn đẩy ngã cô xuống trong cơn hoảng loạn.

“Phải ngược lại mới phải, thực ra ngươi đang dần dần làm việc chăm chỉ hơn. Tốt lắm.”

“Chà, không phải tôi không tò mò gì đâu,” Muoru nói. Rồi hắn gắng liếc qua vết thương của mình và tiếp tục, “Như những thứ đó chẳng hạn... chúng đến từ đâu thế?”

“Từ đâu...đó lại là một câu hỏi triết học khác.” Miệng lão già vặn vẹo, thậm chí người ta có thể nói lão đang nở một nụ cười khó coi. “Chắc là ngươi sẽ không hỏi mấy câu giống như ‘con người từ đâu đến’ đâu nhỉ. Không phải câu hỏi này cũng giống thế hay sao?”

“Thường thì là từ bụng một người đàn bà,” Muoru đùa cợt, nhưng ngài Daribedor đây không hứng thú một chút nào cả.

Còn chẳng buồn giấu đi sự bất mãn của lão, Daribedor bắt đầu quay về căn biệt thự, và nói thế này, “À thì, ta hiểu tại sao ngươi không sợ chúng. Là bởi những người đó thường xuyên xuất hiện vào ban đêm. Dù có thể sẽ phải thất vọng, tốt hơn hết là kiềm chế đi ra ngoài quá nhiều vào ban đêm. Nơi này sẽ gặp rắc rối nếu như ngươi bị giết sau tất cả những tác phẩm mà ngươi đã hoàn thành.”

...Quạ như thường lệ lại an toạ trên đỉnh của mấy tấm bia đá. Nghe xong câu chuyện về Daribedor từ Muoru, y cười khúc khích tỏ vẻ chế giễu.

“Lão già đó thật kinh khủng. Kiểu như, mặc kệ có bao nhiêu người được giao việc đào mộ, một khi họ trở nên không thể chống lại quỷ dữ thì sẽ lập tức trở nên vô dụng ấy.”

Đạt đến đỉnh điểm sức chịu đựng của mình, Muoru vui vẻ phớt lờ cái liếc mắt đểu cáng đầy ẩn ý của Quạ và hỏi, “Hai người biết nhau à?”

Quạ nhún vai đáp, “Ờ thì, nói thật, ta ghét lão ta. Cứ cho là nó đúng đi, nếu ta và ngươi chết thì lão ta cũng sẽ chăm sóc chúng ta trong nghĩa trang này.”

“...thế nghĩa là sao?”

“Sao, ta không nói à? Cả những người biết về tồn tại của lũ ác quỷ cũng được chôn ở đây.”

Muoru thoáng ngập ngừng, các câu hỏi của hắn cái nọ chồng lên cái kia. “Khoan đã! Ta tưởng chỉ mỗi lũ quái vật mới chôn ở đây thôi chứ?”

“Ngươi đang nói gì vậy Chuột-chũi-kun? Chẳng phải cái bây giờ ngươi đang đào có kích cỡ con người sao?”

...điều đó hoàn toàn chính xác.

Hắn đã đào cơ man là mộ, nhưng từ hồi chôn con quái vật kia, chẳng cái nào được yêu cầu phải rộng cả. Sau khi nghe lũ quái vật to lớn khoẻ như thế nào, hắn cảm thấy không đáng để hỏi liệu những con bé hơn có hiền hoà hơn chăng.

Quạ tiếp tục, “Ngươi nghĩ vì sao nơi này được gọi là một cái mộ “Chung”? Đơn giản thôi. Nó dành cho con người và ác quỷ. Cái tên bắt nguồn từ sự thật rằng hai tồn tại xung khắc đều được chôn ở đây...nhưng với con người, thường thì họ không đến đây ngoại trừ một vài trường hợp đặc biệt.” Nụ cười không giống trẻ con, mỉa mai căng ra trên gương mặt của Quạ.

“Vậy...ví dụ, ngôi mộ ngươi đang ngồi lên là cái nào?”

“Ừm, ta nghĩ đây là mộ của con người.”

“Đi xuống. Ngay bây giờ.”

“Hầy...” Quạ thốt ra, gây nên một chấn động băng chân của y, cho tới khi Muoru nâng chiếc xẻng của hắn lên doạ y phải vâng lời.

“À, ngươi đúng là một tên tốt tính đấy. Ngươi trông chẳng giống một tù nhất gì sất,” Quạ lên tiếng trong khi y đặt chân xuống mặt đất và thở dài cái thượt.

“Sao lại thế?”

“Sao trăng gì?”

“Hình như hơi lạ. Mượn lời của ngươi nhé, lũ quái vật kia là thiên địch của nhân loại đúng không? Vậy sao đồng đội của ngươi phải chôn cất nó tử tế đến thế?”

Bị mất chỗ ngồi, Quạ bèn ngồi bắt chéo chân trên mặt đất. Y chang một đứa trẻ muốn nhanh chóng ngồi xuống. Không, thế không đúng. Dẫu hắn đã trông thấy ngoại hình như trẻ con của y rất nhiều lần, lắm lúc khi y nói hắn lại quên bẵng đi mất.

“Ngươi có nhớ những sinh vật đó bất tử không?”

“À,” Muoru gật đầu. Quạ nhất định đã nói điều đó. “Những sự vật này không có cái mà ta gọi là cuộc sống. Đúng như cụm từ đề cập, chúng bất tử. Ngay cả khi ngươi cắt chúng, đốt chúng hay băm vằm chúng thành những mảnh vụn vô cùng nhỏ, cứ như một trò đùa chúng sẽ lại tái sinh...” Dần dần chàng trai nhận ra cảm giác chẳng lành với những ngôn từ đó.

Đọc vị sự thay đổi trong những biểu cảm đó, Quạ tiếp tục. “Đúng không, thật lạ lùng đúng không? Chôn cất là cử chỉ tử tế của ngươi cho những thứ đã chết. Thế nhưng, dẫu vậy, trên mảnh đất này chúng ta đang chôn những kẻ địch không thể chết bằng cách nào đó... Dĩ nhiên, chỉ vì chúng ta cho chúng một nghi lễ tưởng niệm không có nghĩa chúng ta đồng cảm với chúng.”

Muoru lặng thinh.

“Trước đây ngươi đã đoán rằng ‘thợ săn’ huỷ diệt lũ ác quỷ đó. Đúng thế. Các thợ săn chắc chắn đã tìm thấy lũ ác quỷ. Tuy nhiên, họ không thể dứt điểm công việc một cách chính xác.

Lấy ví dụ, nếu con người từ thời xưa có thể sử dụng một sức mạnh cùng loại với “các thợ săn ác quỷ” sở hữu khi họ truy cùng diệt tận lũ quái vật này bằng những khẩu súng trường, thì ta nghĩ nhân loại khi ấy đã tiệm cận sự thịnh vượng giống như con người ngày nay đạt được.”

Đúng rồi, Quạ chắc chắn đã nói thế trong cuộc đối thoại trước của họ. Y đã nói rằng sự tồn tại của con quái vật cản trở sự tiến bộ của nền văn minh.

“Với tư cách con người, chúng ta không thể giết được những thứ đó. Chà, nếu chúng bị trói đầu và chân lại thì chúng sẽ không thể vồ lấy con người hay sự vật nào cả. Nhưng ấy là điều tốt nhất chúng ta có thể làm. Không may là...”

Với gương mặt trĩu nặng buồn thương, Quạ cắn môi.

“Gượm đã, chẳng phải chính vì thế nên mới kỳ lạ sao?” Muoru xen vào. “Hôm nọ ngươi nói gì đó về việc con người đã có thể đạt được một phương thức để đánh bại lũ quái vật này cơ mà?”

“À, phải, phương thức đấy lúc này đang nằm dưới chân ngươi đó.”

“Hoá ra, đám quái thú chôn bên dưới nghĩa trang này được xem như bất tử. Ngươi từng nghe nói về cách tiêu diệt chúng chưa?” “Ngươi không hiểu hả? Nhìn mà xem đi.” Tựa như chơi trong cái hộp cát, Quạ nhẹ gõ vào mặt đất.

“Lũ quái vật này có nhiều hơn là chỉ một cơ thể vật lý. Nếu ngươi siết chặt chúng, ngươi sẽ có thể ngăn chặn không cho chúng chuyển động. Cơ mà cho dù ngươi có cố dìm chúng xuống nước hay chôn chúng vào một cái hố, rốt cục chúng cũng sẽ đào thoát thứ giam hãm mình và tiếp tục cuộc tàn sát.

Rồi có vẻ vào một ngày nọ, ai đó đã thử chôn chúng trong một ngôi mộ con người.”

“...vậy ngươi đang nói rằng sau khi chôn cất chúng không thể sống lại nữa?” Muoru hỏi, cuối cùng cũng hiểu được chuyện Quạ đang nói.

Quạ gật đầu và nở nụ cười yếu ớt.

“Mặc dù câu hỏi của ngươi ‘tại sao lũ ác ma không tái sinh khi bị chôn trong một nghĩa trang,’ có người đã từng hỏi trước đây, thì ta không biết. Đến cả các vị học giả cũng không biết. Tuy nhiên, có lẽ trước tiên là bởi lũ ác ma này tồn tại trong các cơ thể mà chúng ta không hiểu được.

Vì chúng khác biệt với các sinh vật sống trên trái đất này, thậm chí còn có vài ba câu chuyện kể rằng chúng đến từ mặt trằng. Cái gã đầu tiên cố chôn nó trong một nghĩa trang...chà, có lẽ gã đã lên kế hoạch biến nó thành một chuyện cười hay đại loại thế.”

“Hoá ra là lúc đó người đầu tiên từng ăn sên biển chỉ định bụng biến nó thành một trò đùa,” Muoru phì cười nói với Quạ, mặc cho cái người mang dáng dấp trẻ con để lộ vẻ đáng thương, khó hiểu.

Nguệch ngoạc trên nền đất với ngón út của y, Quạ trả lời. “Ờm, đây chỉ là giả thuyết của ta thôi... Có thể nếu những người bị giết bởi lũ quái vật đó nuôi trong mình nỗi hận thù thì có lẽ những thứ bị trói buộc ở đây sẽ không thể hoạt động trở lại.”

“Đừng nói những thứ đáng sợ như thế.”

“Ngươi không run rẩy đâu nhỉ?”

“Ta không biết, chỉ là ta không thích ma quỷ,” Muoru nói với giọng chắc nịch.

Quạ ngẩng mặt lên và phồng đôi má trông mềm mại của y.

“Ta tự hỏi...” Vừa thực hiện hành động kiểu trẻ con ấy, một lần nữa y nói điều mà thậm chí cả người lớn cũng sẽ không nói. “Chà...kể cả khi sức mạnh của chúng bị phong ấn thì không có nghĩa người ta có thể chôn chúng ở bất kỳ nghĩa trang nào. Phải là một mảnh đất cổ xưa, có sức mạnh; loại mảnh đất được bảo vệ bởi con người, và tiếp tục đóng vai trò như cái đối diện với sự khởi nguồn loài người trong khoảng thời gian dài. Một mảnh đất kiểu đó đã trở thành ngục tù vĩnh cửu của lũ quái vật kia.

Giống hệt nơi này...”

Nhớ lại lời sự bực bội của mình, Muoru hỏi, “Chậc, có khi nào đây không phải một nơi hết sức quan trọng không?”

Quạ bật cười. “Ờm, một nơi quan trọng đấy. Và đương nhiên, còn có những nghĩa địa khác tồn tại cho mục đích đánh bại lũ ác ma. Chính bởi nhiệm vụ này rất quan trọng tới mức cần có tiền bảo hiểm. Giả như chỉ có mỗi một địa điểm, lấy nơi này làm ví dụ đi, và nếu nó bị phá huỷ thì lũ ác ma sẽ sống dậy và chúng ta sẽ không thể làm được gì hết.

...À thì, những nơi khác hầu hết đã được nguỵ trang, và người thường bị cấm vào để bảo vệ họ khỏi việc vào trong đó mà không có tí kiến thức nào về những thứ nằm bên dưới.”

Rõ ràng rồi, có lẽ dường như không có ai ghé thăm nghĩa trang này là vì thế.

Thực tế không có người bình thường nào ghé thăm là một yếu tố tiêu cực, làm giảm cơ hội tìm một manh mối hé mở đường thoát thân của hắn. Ấy vậy mà...

“Lạ nhỉ, nhưng mà...” Dẫu hắn hiểu những gì Quạ đang nói, Muoru giờ đây lại lăn tăn một chuyện khác. “Cho tới có lẽ là một trăm năm trước hay chừng đó, con người đã sống trong sợ hãi mà không có cách thức nào để giết lũ quái vật này, phải chứ? Nếu đúng như vậy, thế thì tại sao con người lại không nhận thức được sự tồn tại của lũ quái vật này? Ít nhất thì ta và những người xung quanh ít nhiều cũng phải biết về chúng mới đúng.”

“Đơn giản thôi. Ngươi không cần phải biết,” Quạ nói, nhanh chóng gật đầu như thể hứa vội hứa vàng.

“Mất đi tính bất tử áp đảo, số lượng của chúng đang sụt giảm nhiều hơn rất nhiều so với trong quá khứ. Có một điểm thú vị đấy là lũ ác ma hình như hiểu được sự bất lợi của chúng. Bây giờ chúng không chỉ kiềm chế đi săn hay dụ dỗ con người, mà chúng còn chẳng xuất hiện trước con người nữa kia.”

“Và, chúng ta đã quan sát khuynh hướng này bằng mọi cách. Lũ quái vật không gia tăng. Nên ngươi có thể nói rằng chúng không chết là một loại điểm yếu – lấy lực lượng quân đội làm ví dụ. Mặc kệ họ có tinh nhuệ thế nào đi nữa, không có tiếp tế thì họ có lẽ cũng hoàn toàn suy yếu thôi, đúng không?”

“À, đúng thế thật.”

Phép loại suy của Quạ thực sự rất dễ hiểu, cho nên chàng trai phía trên những con chuột chũi gật đầu đáp lại.

Thật lòng mà nói, lực lượng quân đội được cấu thành bởi con người và đám quái vật gần như khác nhau, nhưng dù là trường hợp nào, sau khi mất đi sức mạnh tổng lực của mình, thì đều không thể nào vực dậy được. Và chẳng mấy chốc sau đó, rõ ràng là dần dần họ chỉ ngày càng tồi tệ hơn.

“Ờm, là thế đấy,” Quạ tiếp tục. “Sau tất cả nỗ lực để tiêu hao số lượng lũ ác ma, các chấn thương cũng trở nên ít hơn. Ga và đèn điện được phát triển và giờ thì ngay cả khi mặt trời lặn thì những sinh hoạt thường ngày vẫn có thể tiếp tục.

Miễn là con người còn sợ hãi sự hăm doạ đang dần tan biến của màn đêm, thì nỗi sợ đó sẽ còn tác động lên công nghiệp và kinh tế. Cho nên kết quả là, các quốc gia nghĩ tốt hơn nên giữ bí mất về lũ quái vật. Hãy gọi nó là bóng tối sống bên trong bóng tối.”

Muoru, vẫn chưa bị thuyết phục, đang cắn môi. Quạ bèn tiếp tục giải thích.

“Thế nên đừng có nghĩ rằng thế giới hoàn toàn không biết là một lời nói dối.”

“Hử? Thật vậy sao?”

“Chà, để ta hỏi nhé, buổi tối hôm đầu tiên ngươi đến nghĩa trang này như thế nào? Ngươi không sợ hãi, phải không? Sao lại không?”

“Về chuyện ấy thì... là vì hồi bé mẹ ta, bà dì kinh khủng hay ai đó đã doạ ta sợ mất mật. Họ nói chuyện về mấy thứ xuất hiện từ nghĩa địa ban đêm, ma quỷ, ác linh... thây ma và đại loại thế.”

“Thấy chưa? Không phải tất cả những cái đó đều là cùng một thứ sao, ‘sinh vật gây hại cho con người’? Có vẻ như các câu chuyện liên quan tới quỷ dữ đã thay đổi một tí theo cùng một cách với những cái tên mà họ gọi.”

Nói đoạn, Quạ cười khanh khách.

“Chậc, vì nằm ở mức tối mật, chỉ tìm ai đó có thể đào huyệt ở một nghĩa trang, mà không để người đó mất đi tỉnh táo thôi cũng khó. Và nếu người đó đến nghĩa trang, thì gần như là họ phải có vài phẩm chất nhất định.”

“Phẩm chất?”

“Kiểu như là có thể chịu đựng được tình huống thiên địch của loài người đang kéo đến này, rồi thì phẩm chất có thần kinh vững vàng. Nói cho dễ hiểu thì...họ rất cứng rắn.”

“Ta đâu có cứng rắn hay gì đâu chứ,” chàng trai nói thẳng thừng.

“Cái gì? Ta biết ngươi đang nói ngươi không có sức mạnh ý chí như ta, nhưng ngươi không cần phải khiêm tốn đâu.”

“Ta không khiêm tốn khiêm tiếc gì hết. Từ tận đáy lòng ta thật sự nghĩ thế. Nếu ta thực sự cứng rắn thì ta đã không...” Muoru ngừng nói và lảng mắt đi.

“Không, chẳng có gì đâu.”

“Gì thế...ngươi đang nói gì thế?”

Quạ khăng khăng muốn nghe cái Muoru định nói, cơ mà với vẻ buồn rầu trên gương mặt hắn, chàng trai ngoan cố không hé răng nửa lời. Hắn không để lộ bộ mặt thật của mình, tựa một con chuột chũi đào bới lòng đất.

Cuối cùng Quạ nổi xung và lè cái lưỡi đỏ thẫm của y về phía chàng trai.

“Ngươi là một tên ngốc Chuột-chũi-kun! Cứ cố ra vẻ trong khi ngươi chỉ có thế!” Quạ hét lên giống như y thích thú với việc hạ thấp giá trị của hắn. Rồi hệt như cái cách y xuất hiện, quạ mau chóng đi mất.

Muoru thở dài cái thượt. Với việc Quạ đi khỏi, Muoru là người duy nhất còn lại trong nghĩa địa khi mặt trời đã lên đến đỉnh.

Dẫu ca hát đã có thể đánh lừa hắn rơi vào một tâm trạng khác, hắn nhận ra rằng thay cho lời bài hát, cơ man những tiếng thở dài đang rớt xuống từ môi hắn.

Thành thực mà nói, hắn đã tưởng hắn khá cứng rắn. Còn về quân đội, dẫu đó chỉ là một đám chết tiệt chỉ cậy có cơ bắp, giống như một hộ gia đình toàn nam giới, hoạ hoằn lắm hắn mới có thể gọi họ là cứng rắn.

Tuy nhiên, niềm tin vào sự cứng rắn của bản thân đã nhanh chóng nhoà dần đi lúc hắn bị đưa tới nghĩa địa này. Và hiện nay nó đã lên đến độ hắn phải nói rằng Quạ, kẻ giống như trẻ con, không hề hiểu nhầm.

-Hắn sợ hãi cái tối tăm của màn đêm.

-Sự tồn tại của lũ quái vật này đã bắt đầu tước đi tỉnh táo của hắn.

-Gần đây, hắn lo sợ rằng chẳng thế nào tìm thấy cô gái giữ mộ ở bất kỳ đâu nữa...

...và, cô gái chắc chắn chán ghét và sợ hãi hắn.

Dễ hiểu thôi, Muoru nghĩ, cố gắng cắt nghĩa những cảm xúc của chính mình. Cảm thấy bồn chồn cũng đúng thôi. Cô ấy là...quan trọng...là xuất phát điểm quan trọng của mình để bỏ trốn khỏi chỗ này. Ngày hôm đó, khi hắn đang chạy điên cuồng – lúc hắn đề nghị cô làm bạn với hắn – hắn cảm thấy như hắn có thể nói chuyện hoàn toàn thành công. Nhưng khi ấy hắn lại chẳng trả lời được gì hết. Hắn là người duy nhất vừa đứng chôn chân trong không gian vừa phung phí thì giờ một cách vô ích, và cũng chính hắn đang nghiền nát những lời từ chối của cô gái.

Về phía Meria, vì cô luôn luôn đặt cho hắn nhiều câu hỏi nhất có thể, cô đã gần như chẳng thể nói cho hắn cái hắn muốn nghe, Muoru nghĩ thế thì không công bằng.

“Tại sao cô ấy lại chỉ xuất hiện vào ban đêm?” “Chính xác thì một người giữ mộ làm công việc gì?” Khi hắn ném cho cô mấy câu hỏi kiểu đó, cô làm vẻ mặt lo lắng và lắc đầu.

Khi hắn trông thấy cô tỏ vẻ như thế, hắn ngày càng lo ngại về khả năng, có khi nào cô ấy ghét mình. Tuy nhiên nếu điều ấy là đúng, gần như cô đã né tránh việc gặp mặt hắn mỗi tối rồi...Tức là chẳng chóng thì chầy cái ngày cô ấy nói chuyện với mình chắc sẽ đến, nhỉ? Liệu ngày ấy thực sự sẽ đến? Có điều chỗ hắn đang đứng lúc này, ngày đó chẳng là gì ngoài quá đỗi xa vời.

Thật là, Quạ đã bảo ai cứng rắn nào? Hắn bật cười. Điều ấy kỳ quặc quá. Nếu hắn quả thật cứng rắn như y nói, thì có lẽ hắn đã không sa vào tình trạng mà hắn không tài nào bình tĩnh được chỉ vì nghĩ về một người con gái. Dù sao, dẫu hắn không nhận được một câu trả lời từ đôi môi cô gái về tình bạn, thì hắn có thể tìm ra cô bao nhiêu tuổi. Mười bốn năm đã trôi qua trong đời cô. Thêm nữa là hắn cũng đã nắm được đủ điều linh tinh khác, chẳng hạn như cô thích những quả táo chín và ghét trời mưa sau khi quần áo cô bị lấm bẩn bởi bùn đất.

Tuy nhiên, cuối cùng cô vẫn chẳng phải là bạn của hắn. Và họ chẳng bao giờ hẹn nhau một thời gian hay địa điểm cụ thể để gặp mặt.

Nên kết quả là, khi trời trở tối, Muoru ra ngoài kiếm tìm cô trong nghĩa trang.

Có thể hiệu quả không cao, nhưng kỳ lạ thay, khoảng thời gian hắn kiếm tìm cô không phải thứ gì đó tồi tệ. Hắn còn cảm thấy vui là đằng khác, mặc dù hắn không thể rõ ràng nói tại sao. Kể cả khu nghĩa địa, nơi ban đầu đã đáng sợ khủng khiếp vào khuya, giờ đây cũng chẳng có vấn đề gì với hắn. Trên thực tế, chỉ ánh sáng từ những vì tinh tú là quá đủ để hắn có thể sải bước. Quả là không thể lường được sức mạnh để thích nghi của con người.

Có điều khu nghĩa trang lại bao la quá chừng, và cho dù đã quen với cảnh vật của những tấm bia đá và cây cối trải dài dường như vô tận phía trước, hắn vẫn chẳng rõ mình đang đứng ở đâu. Vật đầu tiên hắn lấy làm cột mốc là một cái cây khổng lồ mọc lên sừng sững ở chính giữa nghĩa trang. Trong lúc duy trì nhận thức làm sao để quay lại chỗ cái cây, hắn tìm kiếm Meria, song đêm nay dẫu hắn đi tha thẩn trong nghĩa địa, hắn không thể tìm thấy cô.

Hắn nhặt lấy vài viên sỏi và cành cây trong khi tiếp tục cất bước, và rồi khi mà chân hắn mệt nhoài, hắn chợt nảy ra một ý tưởng. Hắn gọi Dephen, con vật đã theo sau hắn ở một khoảng cách không đáng kể.

“Ngươi có một cái mũi thính, phải thế không? Nếu ngươi giúp ta chẳng phải sẽ rất tuyệt sao?”

Hắn chỉ cợt nhả khi đưa ra yêu cầu ấy, nhưng lát sau, hắn nghĩ mình trông thấy con chó khịt khịt cái mũi trước khi quay người và phóng đi vào bóng tối. Bất thình lình, chàng trai đuổi theo con chó.

Và đêm nay Meria rõ ràng đang ở bên dưới cái cây khổng lồ nọ ôm lấy hai đầu gối.

Có vẻ cô đang giấu mình trong chỗ tối tăm của gốc cây, cơ mà dường như cô không phát hiện ra rằng hắn vừa mới tới. Cái cây to quá, tới mức phải năm người nắm tay nhau mới bao trọn được nó. Và những cái rễ cây gồng mình khỏi mặt đất đủ dày để giấu đi tấm thân đang khom mình lại của cô.

Hắn cảm thấy la lên gọi cô khi cô đương ngồi đó sẽ là lần đầu tiên hắn bắt đầu cuộc gặp của họ từ trước đến giờ.

Có lẽ cô ấy đã luôn là người đi tìm mình, chàng trai nghĩ và tưởng tượng ra khả năng thú vị đó. Muoru cố tình gây ra nhiều tiếng động lớn bằng giày của mình trong lúc tiếp cận và cô gái, tựa hồ bị sốc, hấp tấp giấu bàn tay ra sau đầu gối đã khuỵu xuống của mình.

“Này, cô đang làm gì thế?”

Gương mặt Meria bối rối lạ thường. Cô giống như một đứa bé bị bắt quả tang giữa lúc cố gắng giấu đi sai lầm của chúng.

Muoru nhìn vào hai chân Meria. Nhưng không phải theo cách hư hỏng, đầu gối cô đã được bao phủ bởi tấm áo choàng và cô thì đang giấu gì đó sau chúng bằng cả hai bàn tay mình.

...

...Im lặng.

Hai người họ cứ ở trong hai trạng thái kia, và sự im lặng gượng gạo đến cùng cực cứ thế tiếp diễn. Với cô, rõ mười mươi là họ đã gặp nhau vào một thời điểm phiền phức. Tuy nhiên, mặc dù đây là một chuyện bình thường, thứ cô gái đang liều lĩnh che giấu chỉ có kích thích sự tò mò của hắn. Thậm chí hắn còn tự hỏi liệu cô sẽ ghét hắn tới nhường nào nếu như hắn cưỡng ép nhấc đôi chân cô lên.

Tất nhiên, mình thực sự đâu thể làm thế với cô ấy. Hắn không biết phải chăng cô đã hết kiên nhẫn với hắn khi mà hắn đứng đó hay không, song như thể bỏ cuộc, cô lắc đầu và lôi món đồ bí ẩn ra từ bên dưới đầu gối.

Lấp đầy hai lòng bàn tay cô là một khối màu đen kịt thô ráp. Bên cạnh màu sắc, nó còn mang hình dạng một quả đào hình cầu không hoàn thiện và ở gần đỉnh là cái gì đó trông giống như những vết răng nhỏ. Nếu chỉ vậy thôi thì nhìn nó đã chẳng là gì ngoài một loại quả tồi tệ nào đấy nhưng...

Lồng ngực Muoru chợt thắt lại. Như thể một cánh cửa đột nhiên mở ra mà không có tiếng gõ cửa, hắn hồi tưởng.

Trước đôi mắt mình, hắn thấy ai đó bị bắn bởi một thứ chất nổ, và người đàn ông hắn không biết trong trang phục quân đội ngã về phía sau.

Cái đầu cùng xương ngực của ông ta đã bị bắn thủng, nhưng từ bên dưới, Muoru có thể trông thấy quả tim của người đàn ông vẫn đập một cách ngoan cường.

Còn cái khối nằm giữa đôi bàn tay cô gái, nhịp đập của phần thịt đen bên dưới những vết răng trông y hệt quả tim kia. Hoàn toàn... hoàn toàn giống như thế.

...Phải chăng nó là một phần của thứ nào đó? “Nó...là gì vậy?” Muoru rùng mình hỏi.

Tuy nhiên, Meria với cái đầu gục xuống nói bằng giọng nhỏ xíu, “Ta không thể...”

Sd 111

Hắn hiểu rồi. Ngay cả khi đó là điều duy nhất cô có thể thốt ra, hắn biết ý cô là gì. Đơn giản thôi, sau một tuần nghe cô sử dụng nó để đáp lại vô số chủ đề khác nhau, hắn hiểu đấy là cách mà cô nói, “đừng hỏi ta chuyện đó”

Mục đích đằng sau sự từ chối ngáng đường hắn cứ như một cái vực sâu thăm thẳm, và hắn thì đang đứng trên mép vực ấy. Và ở vách đá đối diện là cô gái. Nhưng khi hắn cố gắng đi sang phía cô, hắn nhận ra rằng hắn có quẳng bao nhiêu đất cát vào khoảng trống đi chăng nữa, thì cái vực ấy vẫn chẳng bao giờ được lấp đầy.

Meria đưa thứ quả màu đen lại đôi môi mình, hành động vô cùng chậm rãi như thể chàng trai thậm chí không ở đó. Rồi cô bắt đầu ăn.

Nhìn vào cái miệng nguyên sơ của cô gái, Muoru hỏi, “Có ngon không?”

Hắn không mong chờ cô đáp lại, vậy mà sau đó cùng loại quả kề sát miệng, cô khẽ lắc đầu.

Kể cả là cô đi nữa thì hôm nay cô cũng đang cư xử bất thường. Cho dù bạn có thể không bao giờ tặng cô lời khen rằng cô luôn luôn cư xử với thái độ giao tiếp đúng mực, đây là lần đầu tiên Muoru cảm thấy cô rõ ràng đang né tránh hắn.

‘Tôi ở đây có làm phiền cô không?’ – hắn đang đắn đo hỏi như vậy, thế nhưng khi hắn mở miệng thì điều duy nhất thốt ra lại là, “Chà, nói cho tôi một lời đi.”

Đúng vậy. Cô xem hắn là một mối phiền toái. Hắn hiểu như thế.

...Nhưng dù hắn hiểu điều đó, thật sự xác nhận điều đó khiến phần bản thân yếu đuối của hắn cảm thấy tuyệt vọng.

Tựa lưng vào thân cây, chàng trai chẳng biết làm thế nào mới phải.

Và với thứ quả vật chạm vào đôi môi, cô gái buồn rầu lắc đầu từ bên này sang bên kia.