FANDOM


Lord El Melloi II Case Files Volume 1 Page 058

-Chúng tôi gặp phải rất nhiều rắc rối.

Chúng tôi chẳng thể làm gì khác, không thấy lối thoát nào. Chúng tôi bị kẹt một cách vô vọng trong rắc rối.

"T-T-T-T-T-Tại sao mấy người lại ở trong phòng tôi?!"

Bởi vì, với đôi má trắng như gốm sứ lúc thường trở nên đỏ lự, không ai ngoài Luviagelita Edelfelt đứng trước mặt chúng tôi.

Để làm mọi chuyện thêm tệ hơn, sư phụ tôi hoàn toàn cứng đơ trong tư thế đứng ngay giữa các cánh cửa bằng đồng nặng nề. Nếu có thể, ngài chắc chắn chỉ mong sao được đóng cánh cửa lại và bỏ đi, nhưng với cánh tay yếu ớt như của ngài, việc đó là không thể. Có lẽ quan trọng hơn nữa, thái độ của đối phương cũng không có vẻ gì là sẽ cho phép ngài rút lui dễ dàng.

Có thể cô ta vừa định đi ngủ, vì cô đã chuyển sang mặc bộ đồ négligée trắng. Tất nhiên là bộ áo làm từ vải lụa thượng hạng, và giá trị của nó chắc chắn làm bỏng mắt, nhưng dù sao thì nó trông cũng dễ thương. Kể cả với phần diềm xếp khiêu gợi, kiểu dáng của nó không thể nào làm xấu đi vóc dáng mảnh mai của cô.

…Còn nữa, có lẽ chỉ là tưởng tượng của tôi nhưng dường như chính vào lúc cánh cửa mở ra, Luvia đã mau chóng dấu đi thứ gì đó trông như thú nhồi bông hình con chó đằng sau cái gối gần nhất.

Nếu tôi nhớ không lầm, nó là một nhân vật trong chương trình truyền hình dành cho thiếu nhi, nó thích nấu ăn, nhưng khi tình huống đưa đẩy, nó sẽ biến thành một hiệp sĩ trong bộ giáp bóng loáng để bảo vệ công chúa. Quả thật điều này là niềm ao ước của các bé gái. Đó là điều mà tôi đã thấy trên TV ở ký túc xá sau khi đến Luân Đôn. Tất nhiên vào lúc này, tôi chắc chắn không nghĩ rằng mình muốn có một cái cho bản thân. Và tôi vô cùng chắc chắn rằng mình cũng chẳng muốn dành chỗ trong thời gian biểu hàng tuần của mình chỉ để xem nó trên TV.

"Tại sao mấy người lại ở đây?! Nếu viện được cớ gì thì hãy tuôn ra hết đi!"

Sự kiên định của cô trong việc giấu diếm con vật yêu thích của mình đủ để khiến người ta phát khóc… hoặc đúng hơn, nó đủ khiến cho cô ta bật khóc. Nếu cô chỉ đơn giản là để sang một bên thì sư phụ tôi có lẽ sẽ không nhận thấy, nhưng hình như với hành động ấy, cô có thể mất đi điều gì đó thậm chí còn quan trọng hơn.

…Mình nên làm gì đây?

Suy nghĩ của tôi chạy điên cuồng. Đây là lần đầu tiên tôi suy nghĩ điều gì đó dữ vậy kể từ khi đến Luân Đôn. Cô gái trước mặt chúng tôi hiện giờ quá khác so với người mà chúng tôi gặp lúc ở tiền sảnh. Cô hình như biến thành một người hoàn toàn khác.

Thật ra ai mới là người cãi tay đôi với ông pháp sư già trông-như-quái-vật chỉ mới cách đây vài giờ?

"…Không, ờ... làm ơn chờ một chút, tiểu thư."

Xoa trán như thể bị một cơn đau đầu, sư phụ tôi nói.

"Được, tôi sẽ chờ. Để tôi chờ xem nào, Lord El-Melloi II! Thật không ngờ lại có một Lord đi xâm phạm phòng riêng của một quý cô khi chưa được phép! Thanh danh của Tháp Đồng Hồ đã bị ông quẳng xuống đất rồi đó!"

Một lượng ma lực đáng sợ bắt đầu dâng lên xung quanh Luvia.

…Ồ, tệ rồi đây...

Các bản năng của tôi tan biến.

Cho dù đây là một người hoàn toàn khác, nhưng ma thuật đó là thật. Chắc hẳn nó ở đẳng cấp mà sư phụ tôi không thể đỡ nổi. Tôi hiểu sự thật rằng ngài thua kém đến mức không thể xem là cấp độ nửa vời. Nếu ngài chạm trán với một ma thuật cao cấp thật sự, không có gì đảm bảo là ngài thậm chí để lại được tro tàn của mình.

"K-Không phải! Tôi chỉ đến căn phòng có cái 'Tên Thiên Sứ' của mình như đã được chỉ định thôi mà!"

Lấy ra lá thư của mình, ngài tuyệt vọng kêu lên. Phía trước lá thư có chữ "Mihael". Cũng như chính Lâu Đài Biệt Cư, những chữ lờ mờ khó nhận dạng này có vẻ gì đó… không đáng tin.

"…Đúng vậy thật nhỉ."

Luvia xem xét kỹ bức thư mà sư phụ tôi đang cầm.

"Nhưng 'Tên Thiên Sứ' của căn phòng này là 'Michael' đấy chứ?"

"Hả?"

Sư phụ tôi kiểm tra lại tấm biển gần bên cánh cửa một lần nữa. Như Luvia đã nói, chữ "Michael" được ghi trên đó - Đúng thật có chữ "C" trên đó. Tiện thể, người chỉ ra căn phòng này chính là tôi.

"…Quả nhiên là như vậy."

"X-Xin lỗi. Xem ra em… nhầm lẫn."

Em xin lỗi sư phụ. Xem ra số mệnh của ngài đến đây là tận. Nếu có thể được, xin đừng đẩy nó sang em.

"Quả nhiên, ông đã chuẩn bị sẵn sàng rồi đấy nhỉ?"

Áp lực xung quanh cánh tay của cô ta tiếp tục tăng. Kể cả không khí gần bên cũng bắt đầu xoáy tròn quanh nó, lại còn tăng tốc nữa. Khi áp lực đạt đến ngưỡng bùng phát, sư phụ tôi kêu lên.

"C-Chờ đã! Đây là Schemhamphoras đấy!"

"...?"

Ngần ngừ một chút, Luvia gật đầu.

"Tôi hiểu. Tôi không thể khẳng định khi chỉ nhìn tên Thiên Sứ của mình, nhưng dù sao thì nó đúng là như thế. Vậy là ma thuật đằng sau Lâu Đài Biệt Cư sử dụng Kabbalah làm nền tảng của nó."

…Sêm ham pho ray?

Dường như họ đã đi đến một sự đồng thuận nào đó, nhưng tôi hoàn toàn không hiểu được họ đang nói về cái gì.

Kabbalah dĩ nhiên là một trong các dòng ma thuật nổi tiếng. Xuất phát từ Do Thái Giáo, nó không nhất thiết bao hàm việc sử dụng Phép Thần Bí như trong ma thuật, nhưng khi pháp sư nói về nó, họ đa phần là nói về phần mà nó có liên quan đến ma thuật. Tôi cũng có nghe nói rằng các cấp bậc phân chia trong Tháp Đồng Hồ về căn bản là dựa theo nó.

Tuy nhiên, bất kể "sêm ham pho ray" có ý nghĩa gì và làm sao mà điều đó đưa đến kết thúc của cuộc trò chuyện này thì vẫn còn là điều bí ẩn đối với tôi.

"Dù nó không phải là lời xin lỗi, nhưng liệu cô có thể cân nhắc thông tin vừa rồi để tha thứ cho tôi không?"

"..."

Sau khi suy nghĩ một lúc về những gì sư phụ tôi vừa nói, Luvia cất tiếng.

"…Vừa đủ điểm đỗ đấy."

"Không bị đánh trượt là may rồi. Nhưng tôi không nghĩ ở tuổi này rồi mà mình còn được chấm điểm."

Lấy ra một chiếc khăn tay, sư phụ tôi lau mồ hôi lạnh trong khi nói. Có gì đó kỳ quặc, như thể đang làm một con rối bị giật dây, ngài bước ra khỏi phòng. Sau khi bước một bước, Luvia vươn một ngón tay ra.

"Thức TỉnhCall."

Tôi thấy một ánh sáng.

Không, tôi chỉ tưởng là mình thấy nó.

Ngay sau đó, bên cạnh ống tay áo của sư phụ tôi, một lỗ đen mở ra giữa không trung. Tác dụng của những lời nguyền tích tụ tương đương với tác dụng của một tia nhiệt.

"Ông hiểu mà, phải không? Nếu một sự xâm phạm như thế này xảy ra lần nữa, thì một lời nguyền y hệt với cái này sẽ thiêu rụi quả tim của ông." Luvia nói với một nụ cười ngọt ngào.

Không nói lời nào, cô ta đóng sầm cửa lại.

Xem ra phần nào lớn hơn nhiều so với sức mạnh tàn bạo, thậm chí cô gái này cũng xuất sắc hơn sư phụ tôi. Tôi đắn đo giữa việc khen ngợi cô hay khuyên nhủ sư phụ tôi.

Dù gì, khi giờ đây chỉ còn hai chúng tôi trong hành lang, sư phụ lờ đờ quay sang tôi.

"Gì vậy, Gray?"

"…Ư, em… chỉ là đang có nhiều suy nghĩ trong đầu lúc này."

"Xung đột giữa các pháp sư với nhau là chuyện như cơm bữa. Trò không thể cứ luôn để tâm đến mỗi khi chuyện đó xảy ra được."

Dù cảm thấy như điều vừa mới diễn ra có vẻ hơi khác so với cuộc cãi cọ nhỏ nhặt giữa các pháp sư, nhưng tôi quyết định không nói ra điều đó. Tôi nghĩ ngài cũng chẳng thật sự hiểu chuyện xảy ra khi nãy.

"Quan trọng hơn, hãy viết thêm nó vào ghi chú đi. Vào trong bản đồ tổng quát về Lâu Đài Biệt Cư này, 'Tên Thiên Sứ' của Edelfelt ấy."

"À… vâng ạ."

May cho tôi, dù không được sáng dạ cho lắm nhưng tôi cũng không đến nỗi tệ trong việc nắm bắt địa hình. Sử dụng quyển vở mà sư phụ tôi đưa cho, tôi ghi lại thông tin theo như lời hướng dẫn. Khi tôi bắt đầu loay hoay với việc ghi cho đúng chữ "sêm ham pho ray"-

"-Từ ấy là Schemhamphoras."

Sư phụ tôi nói khi chỉ tay vào chỗ trống mà tôi đang viết dở. Sau đó, đôi mắt ngài hơi nheo lại.

"Hãy nhân cơ hội này để sắp xếp lại thông tin mà chúng ta đã có."

Dù đang nghĩ gì thì ngài vẫn nói câu đó. Lại lần nữa cất tiếng, ngài bắt đầu điểm lại các sự kiện xảy ra vài giờ trước ở tiền sảnh.

***

-Đi ngược về thời điểm lúc trước.

"…Ô hô, ta đang nói về dòng máu ti tiện của ngươi đấy, Luviagelita Edelfelt."

"Ông quá khen rồi."

Orlocke và Luvia cùng trao đổi một nụ cười.

Trong tình huống này, hai nụ cười ấy tựa như tục quăng bỏ găng tay trong trận song đấu giữa các hiệp sĩ. Không hề có tạp ý hay sơ sót nào, hành động này chỉ nhằm thẳng thừng xúc phạm đến danh dự của đối phương.

"..."

Thật lòng thì đầu tôi cảm giác rất giống lốp xịt. Như đã nói lúc trước, trong hai tháng qua, số người mà tôi từng trò chuyện có thể đếm trên đầu ngón tay. Đột ngột rơi vào tình thế mà mỗi cá nhân ở đây đều rất mạnh, đại khái có thể thấy trước là chuyện này làm cho óc của tôi muốn gào lên.

Flue.

Heine Istari.

Orlocke Caesarmund.

Tokitou Jiroubou Seigen.

Tất cả bọn họ đều là những pháp sư có nét đặc trưng khó phai, nhưng cô gái chỉ vừa mới xuất hiện ở đây hình như có vẻ ấn tượng hơn.

"Luviagelita Edelfelt. Đây lại là một nhân vật đặc biệt phi thường tới nữa rồi." Sư phụ tôi nói cùng với một tiếng than thở.

"Ngài biết cô ấy ạ?"

"Đó là một gia tộc lớn về Ma Thuật Bảo Thạch định cư tại Phần Lan. Ta nghe nói vị gia trưởng trước đây đã thoái nhiệm sớm và ở mọi nơi đều để cho cô con gái ra mặt… Là như vậy đây sao?"

"Ô hô, ngay cả Lord non trẻ của chúng ta cũng biết cơ đấy."

Ông pháp sư già ngồi xe lăn nở một nụ cười vui vẻ khi nghe được lời nói của sư phụ tôi.

"Phải rồi. Chúng là lũ linh cẩu thanh nhã nhất trên mặt đất này mà. Dù sao cũng chỉ là những kẻ mới phất lên vào Thời Phục Hưng, và có sở thích can dự một cách không biết xấu hổ vào các tranh chấp trên khắp thế giới chỉ để cố đớp rỉa lấy những bảo vật ma thuật."

Tuy vậy.

Cô gái nói trên chỉ liếc sơ qua các pháp sư có ý đánh giá mình.

Gật đầu với mấy người theo hầu, cô tự mình tiến vào đại sảnh của Lâu Đài Biệt Cư.

"Caesarmund, lão khọm già." Cô thì thầm.

Riêng giọng nói của cô cũng đủ để khiến một nghệ nhân nào đó run rẩy. Không chỉ với vẻ ngoài, cô có đầy đủ tố chất mà người thường phải dày công mới có được. Gọi là một hào quang, hoặc một Thánh Linh. Đấy là những từ ngữ mà các nhà phê bình dùng để nói về nghệ thuật, nhằm ghi nhận tính chất mà ngôn từ không thể lột tả.

Và cô mới chỉ khoảng 17 18 tuổi.

Cô mới chỉ cùng lứa với học sinh trung học, thế thì tại sao lại có được phẩm chất như thế?

"Rất vinh hạnh vì lời đánh giá đó của ông. Nếu tôi có thể nói thế bằng sự tôn trọng đối với dòng họ Edelfelt, chúng tôi là một gia tộc sẽ không bị chặn lại vì bất cứ ai hay bất cứ điều gì trong việc tìm hái trái quả ngon lành. Nếu mạnh bạo thì tôi sẽ dùng từ 'thợ săn' nghe dễ chịu hơn là 'linh cẩu'. Hoặc tốt hơn nữa, nói theo tiếng Pháp là 'le chassseur' hay cũng khá hay."

Lời nói của cô, dù ý chính là kiêu ngạo nhưng không hề gây ảnh hưởng đến nét dịu dàng của cô. Thay vì vậy, cô nói bằng sự vững vàng và nghiêm túc buộc người ta chỉ có thể gật đầu đồng tình. Ngay cả tôi, người không biết gì về cả nhà Edelfelt lẫn các gia tộc pháp sư nổi tiếng trong cộng đồng, cũng cảm thấy sởn da trước những lời đó.

Giống như, một người bình thường dù không thể nhận thấy giá trị chân chính nhưng vẫn có thể cảm thấy quyền lực tượng trưng của một món trang sức quý giá.

"Nhưng mà, ông đã cất công đến tận đây thế này, phải chăng trong Khắc Ấn Ma Thuật của ông có khiếm khuyết nào đó?"

"…Ha. Nói nhảm gì thế hả, đồ cá rỉa xác?"

"Vậy sao?" Cô gái nghiêng đầu sang bên. "Dĩ nhiên, trong lịch sử nhà Ceasarmund thì không có, nhưng chuyện Khắc Ấn quá già cỗi bị mốc meo thì tôi đã nghe rồi đấy. Phải, dù việc nuôi dưỡng dòng máu ma thuật cần phải có một thời gian dài, nhưng nếu vượt quá cả nghìn năm thì có cũng thành vấn đề nhỉ? Rượu có làm tốt đến đâu thì thời hạn tối đa của nó cũng chỉ có thể được gần trăm năm thôi mà, đúng không?"

Đôi môi của cô ta nở một nụ cười khúc khích.

Kể cả trong nhóm pháp sư ở đây, mỗi cá nhân đều phi thường, nhưng Orlorke lại là một con quái vật ở cấp độ hoàn toàn khác. Và bất chấp điều đó, Luvia đương đầu với kẻ có thế lực tại Tháp Đồng Hồ này mà không hề chùn bước.

"Chính vì thế mà ông mới trông cậy vào Phục Nguyên Sư Geryon Ashborn, không phải sao?"

Một tiếng ồn khác lạ vang lên trong tiền sảnh của lâu đài.

Ngay đến Heine, người đã thể hiện ma thuật tài tình lúc nãy, cũng nhướn mày tỏ vẻ lo ngại.

"…Phục Nguyên Sư?"

"Tức là chủ nhân của Lâu Đài Biệt Cư Adra này. Tất nhiên ông ta là một pháp sư có địa vị cao, nhưng ông cũng có chỗ hơi khác thường."

Đáp lại lời mà tôi buột miệng lặp lại theo những gì mình nghe, sư phụ tôi nói nhỏ với tôi.

"Chỗ khác thường?"

"Phải. Trò đã biết về Khắc Ấn Ma Thuật rồi, đúng chứ?"

Tất nhiên là tôi đã biết.

Ma Thuật tức là điều Thần Bí. Tuy nhiên, bắt đầu từ Công Nguyên, lịch sử loài người luôn trong quy trình loại bỏ các Thần Bí. Ánh sáng khoa học lan rộng tỉ lệ thuận với bóng tối Thần Bí bị suy thoái. Bất kể pháp sư có chống lại sự thật này ra sao, quy luật ấy vẫn không thay đổi. Sự Thần Bí trong Thời Đại Thần Thánh trở nên quá xa vời, đến nỗi thậm chí nhận thức thoáng qua về chúng trong thế giới nay cũng gần như là bất khả thi.

Khắc Ấn Ma Thuật là đáp án của pháp sư đối với vấn đề đặt ra bởi dòng chảy thời gian, một "Phép Thần Bí cố định".

"Về bản chất, Khắc Ấn Ma Thuật giống một cơ quan nội tạng mới được tạo nên bằng phương pháp chưng cất trong hàng trăm năm. Vì là nội tạng nên nó không thích nghi được với những gì không thuộc huyết thống, cho nên cơ hội để cho người ngoài can thiệp vào nó là vô cùng hạn hữu. Các gia tộc pháp sư lâu đời có khả năng thực hiện uy quyền của họ, chủ yếu là nhờ vào sự tồn tại của những Khắc Ấn Ma Thuật như vậy."

Lời của sư phụ tôi chuyển thành một giai điệu êm ái, tương tự như bài giảng của ngài tại Tháp Đồng Hồ. Ngay cả trong tình huống căng thẳng cao độ này, dường như năng lực của ngài vẫn không hề thay đổi.

"Nhưng cũng có những ngoại lệ." Ngài nói thêm. "Và một trong số trường hợp ngoại lệ ấy là chủ nhân của lâu đài này. Ashborn nổi tiếng với khả năng phục hồi Khắc Ấn Ma Thuật bị hư hại, và thế nên ông ta được gọi là Phục Nguyên Sư. Đúng như dự đoán, nhà Edelfelt biết được khá nhiều tiểu sử của ông ta."

Nói xong, sư phụ tôi quay sang quan sát cuộc trạm trán giữa hai người trước mặt chúng tôi.

Với vẻ tức tối, ông pháp sư già đang chọc một ngón tay của mình lên tay vịnh xe lăn, như thể đang cố gắng chọc thủng lớp da bọc cũ. Rồi ông nhìn lên.

"…Nếu vậy, với nhà Edelfelt thì sao? Đã cất công đến vì di sản của Ashborn, thì liệu ta có nên cho rằng đó cũng là vì sự thiếu hoàn chỉnh của bản thân ngươi không đây?"

"Ôi, thật thô lỗ làm sao! Trông tôi có giống một kẻ non nớt đến mức làm tổn hại đến chính Khắc Ấn Ma Thuật của mình không?"

Khóe miệng cô gái nhếch lên, cô nâng váy áo của mình. Như đã đoán, động tác này trông ít giống tư thế chào của phụ nữ mà lại giống kiểu chào của hiệp sĩ hơn.

"Nhưng mà, để cho một kỹ năng quý giá như vậy bị mất đi thì chẳng khác gì một sự tàn nhẫn. Vì thế, tôi phải đến thăm nơi đây để mà thêm nó vào chỗ dưới cùng trong bộ sưu tập của mình đấy."

Cô nói với vẻ cao ngạo. Cô không hề nói rằng kỹ năng ấy là cần thiết đối với mình, mà chỉ nói là nó quý giá, nên cô thấy hoàn toàn bình thường đối với việc đưa nó vào kho chứa của mình. Với một vẻ ngây thơ của trẻ con, cô phát ngôn xanh rờn như vậy.

Không lạ gì khi gia tộc của cô ta mang tiếng là bọn linh cẩu kiêu ngạo nhất quả đất.

Nếu sự việc tiếp diễn như thế này, rất có thể giữa hai người sẽ nổ ra một trận quyết đấu. Chí ít thì Luvia hình như có ý định ấy, và ông pháp sư già không tỏ ra giấu hiệu nào khiến cô thất vọng. Tất nhiên, ngay cả tôi cũng biết những xung đột giữa các pháp sư cũng không phải là hiếm.

Nhưng mà.

Số người được mời đến - hoặc nói đúng hơn là số người đến tham dự - không dừng lại ở Luvia.

"Ô?"

Người đầu tiên quay sang nhìn là Flue. Xuyên qua tiền sảnh, ở tầng hai, các ngón tay trắng bệch đặt trên tay vịn làm từ gỗ sồi Anh, một người phụ nữ nhìn xuống tất cả chúng tôi.

Cô ta đeo mắt kính. Tóc cô, dài hơn nhiều so với tóc của Luvia, đen như màn đêm, và xõa xuống tận mắt cá chân. Trên người của cô diện một loại trang phục thêu hoa rực rỡ, có ống tay dài và trông thật khác lạ.

…Trang phục truyền thống à?

"Kimono dài tay Yuzen[1]... thì phải?" Sư phụ tôi nói nhỏ, đặt tay lên cằm.

Một từ nghe như xuất phát từ phương Đông. Theo như tôi tìm hiểu về sau, có vẻ như nó là thứ cũng đến từ Nhật Bản như Tokitou Jiroubou Seigen. "Dường như số phận của ta hoàn toàn gắn chặt với đất nước đó." - Sư phụ tôi về sau này có phàn nàn như thế.

"Tôi xin lỗi vì đã để mọi người phải chờ."

Người phụ nữ nói trong khi chỉnh lại gọng kính. Người quản gia lúc trước trông chừng ở lối vào hiện cũng đang đứng bên cạnh cô ta.

"Tôi được chỉ định là người mở di chúc của Geryon Ashborn, đến từ Khoa Pháp Chính của Tháp Đồng Hồ. Tên tôi là Hishiri Adashino."

Lại lần nữa, các pháp sư dưới tiền sảnh lập tức chú ý.

Cụm từ "Khoa Pháp Chính" có nhiều ý nghĩa đối với họ. Tôi có thể cảm thấy sư phụ biến sắc bởi một nỗi căng thẳng bất bình thường.

Nhìn xuống họ, Hishiri lấy ra một lá thư duy nhất.

Nó trông khá giống với thư mời được trao cho sư phụ tôi và những người khác, nhưng bên cạnh dấu niêm phong của nhà Ashborn còn có con dấu của Khoa Pháp Chính thuộc Tháp Đồng Hồ.

"Vậy thì," Người phụ nữ nói.

"Tôi xin được công bố di chúc của ngài Geryon Ashborn."

TLECF - Vol1 (Fmz)05
***

Trong Tháp Đồng Hồ, có mười hai khoa ngành. Mười hai lĩnh vực được giám sát bởi mười hai Lord.

Đại đa số các pháp sư bắt đầu học về ma thuật tại Khoa Cơ Sở Toàn Thể - một phân khoa dạy về mặt bằng chung giữa các dòng ma thuật và kiến thức căn bản về Địa Mạch và Mana. Từ đó, họ sẽ tiếp tục theo học Cơ Sở Cá Thể, Phục Linh Thuật, Khoáng Vật Học, Động Vật Học, Nhân Chủng Học, Thực Vật Học, Thiên Thể Học, Sáng Tạo, Nguyền Chú, Khảo Cổ Học, hoặc Lý Luận Ma Thuật Hiện Đại. Hình thức và khuynh hướng của các phân khoa này thì vô cùng đa dạng, nhưng về cơ bản thì chúng đều nghiên cứu về Thần Bí. Theo lời sư phụ tôi, pháp sư là thực thể tồn tại để tìm kiếm "Vòng Xoáy Căn Nguyên", nên hệ thống này là một kết quả tự nhiên.

Nhưng mà.

Trong Tháp Đồng Hồ, có một phân khoa không hề liên quan trực tiếp đến việc nghiên cứu sự Thần Bí. Họ là những người sử dụng ma thuật và quyền lực của Tháp Đồng Hồ để can thiệp vào xã hội cộng đồng, hoặc nội quy của bản thân Tháp Đồng Hồ. Họ thật sự là thành phần không thể thiếu được.

Khoa Pháp Chính.

Họ không phải là những người học về luật pháp và chính trị - họ là phân khoa về quản lý. Bỏ qua xu hướng chung của tất cả pháp sư là theo đuổi "Vòng Xoáy Căn Nguyên", họ là một phe cánh tà đạo, chỉ nhằm vào việc củng cố nền móng của chính Tháp Đồng Hồ.

Sư phụ tôi muốn nói rằng họ như cái bóng bên trong mặt trời, hoặc mặt trời bên trong bóng râm, như sự thiết yếu trong khái niệm Âm Dương.

Tôi chưa từng thấy pháp sư nào đến từ Khoa Pháp Chính, nhưng giờ thì có một người đang nhìn xuống chúng tôi từ tầng hai phía trên sảnh.

"…Dù sao thì, Khoa Pháp Chính mà đã ra mặt thì việc phân tranh ở đây sẽ trở nên tuyệt đối rồi." Sư phụ tôi khẽ thì thầm.

Dù sao thì đó chính xác là mục đích của Khoa Pháp Chính. Nếu Gergyon Ashborn, người đã khuất cách đây một tháng, chỉ định họ là người mở di chúc, thì việc đó khiến di chúc của ông ta được bảo toàn.

Chưa kể đến bản thân người phụ nữ này. Chỉ nhìn cô ta thôi cũng làm cho toàn bộ máu trong người muốn chảy ngược. Không như tà khí âm ỉ của Orcloke Caesarmund, hoặc vẻ đẹp dữ dội của Luviagelita Edelfelt, cô có một nụ cười tràn đầy ôn tồn và lạnh nhạt như hút người ta vào trong. Cô đem đến một ảo giác như thể đang nhẹ nhàng vuốt lên xương sống của ta từ bên trong.

…Cô ta là một con rắn.

Trực giác của tôi mách bảo vậy.

Nhìn sự lạnh lùng và thu hút của cô, giống như nhìn một con bò sát. Vẻ ngoài kỳ lạ của cô, bộ áo kimono ống tay dài càng tăng thêm ấn tượng về một con rắn đang lột da.

"…Ôi trời. Lại cả Khoa Pháp Chính cơ đấy…"

"…Rặt một lũ tụt hậu nhầm lẫn giữa phương pháp và mục đích…"

Flue và Orlocke cùng lẩm bẩm một mình.

Khi mà lần đầu tiên, hai người này dường như có được một sự đồng tình hiếm hoi với nhau, thì "bọn tà đạo trong Tháp Đồng Hồ", được biết đến là Khoa Pháp Chính, hình như đã sẵn có một hàng khá dài những kẻ địch.

Đổi lại, Hishiri Adashino không hề có vẻ gì là lưu tâm đến họ, và thay vì vậy, cô mở phong thư trong tay mình.

"Di chúc chỉ có ba câu."

Tiếp theo, cô đọc ra ba câu đó.

"Hỏi những cái tên Thiên Sứ."

Giọng cô hơi biến đổi.

Ký ức về chủ nhân trước đây của Lâu Đài Biệt Cư. Geryon Ashborn, vào lúc này được gợi lại. Tôi chưa bao giờ gặp ông ta trước đây, và cũng không cách nào biết được cô ta đã từng gặp ông ta hay chưa, nhưng dù vậy thì hình ảnh một ông già lo lắng ngồi dậy từ chiếc giường vẫn hiện ra trước mắt tôi.

"Những người được hỏi và không thể trả lời, sẽ bị tước bỏ Thiên Sứ bằng mọi cách."

Câu nói tiếp tục.

Tiếng sột soạt bắt đầu lan khắp tiền sảnh. Sột soạt, sột soạt, sột soạt, âm thanh vang lên liên tục. Như thể câu nói của người chủ quá cố là bùa phép, làm thức tỉnh Thiên Sứ mà ông thu gom vào trong lâu đài này. Ảo giác Thiên Sứ vô hình tụ lại như bong bóng bám víu trên sàn, trên tường, và cả trên trần.

"Kẻ nào bắt được Thiên Sứ của ta, sẽ trở thành người thừa kế gia sản."

Nói đến đây, cô ta ngừng lại.

"…Hết rồi à?" Flue hỏi.

Gãi cái cằm râu ria của mình bằng bàn tay bẩn, ông hỏi người mặc kimono tên là Hishiri Adashino.

"Đúng thế. Đặc biệt là không hề có thời hạn cụ thể nào được đặt ra cả."

Cùng một cái gật đầu, Hishiri gấp lá thư lại.

Kết hợp cùng trang phục của cô, đó là một cảnh tượng làm liên tưởng đến một bài thơ ở Viễn Đông. Tôi có cảm giác là mình đã đọc ở đâu đó về thể loại thư tình viết bằng thơ và gửi nó, nhưng tôi không biết liệu đó có phải là thể loại phù hợp với nét đặc trưng văn hóa trên trang phục của cô hay không.

"Còn nữa, có một gợi ý đã được giao vào tay mỗi người. Xin hãy xem thư mời của các vị."

"Thư mời?"

Sư phụ tôi cầm lên lá thư mời của chúng tôi. Ở một chỗ mà lúc trước là khoảng trống, các ký tự vàng óng hiện ra. Hình như hiện tượng tương tự cũng xảy ra với lá thư mời của những người khác, điều mà ngài thầm xác nhận.

"Đó sẽ là 'Tên Thiên Sứ' của mỗi người." Cô ta nói nhỏ.

"Ra vậy. Chữ nổi lên theo bước sóng ma lực của vùng đất này à? Một thuật thức đơn giản, nhưng có vẻ hữu ích trong ứng dụng đấy." Sư phụ tôi nói với vẻ ngưỡng mộ.

Có vẻ như óc tò mò của ngài được khơi dậy. Những lúc thế này, biểu cảm của ngài giống như của một con mèo có được món đồ chơi ưa thích của nó, nhưng không rõ liệu ngài có nhận ra điều đó hay không. Xem xét các ký tự trên lá thư, ngài hơi nheo mắt lại.

"'Tên Thiên Sứ' hử? Có phải kiểu như một cái tên ma thuật không?"

Một số nhóm pháp sư đặt ra những cái tên để tạo sự khác biệt giữa họ với cái tên thông thường mà tổ tiên của họ đặt cho. Có vẻ như đó là vấn đề đơn giản, việc tạo ra một cái tên cá tính để rồi có thể liên đới đến loại ma thuật chuyên sâu của họ. Không hẳn là lúc nào nó cũng phải là một biệt danh để nói đến bản thân họ, thỉnh thoảng nó cũng dùng để nói lên niềm tin của hoặc một khẩu hiệu ưa thích của họ.

Dường như kiểu tên gọi này thường được xem là tên ma thuật. Tuy nhiên, khi mà hầu hết các dòng họ pháp sư có liên hệ với Tháp Đồng Hồ từ lâu đã quyết định dấn thân vào con đường theo đuổi ma thuật, dường như không còn ví dụ bình thường nào về nó xuất hiện dạo gần đây.

"Còn nữa, ngoài lá thư này ra thì mỗi người cũng được giao cho một căn phòng trùng tên với 'Tên Thiên Sứ' của mình để lưu trú. Xin hãy xác nhận qua tấm biển tên treo ở mỗi phòng và tùy ý sử dụng. Có vẻ như bữa ăn trong thời gian các vị lưu lại sẽ do các người hầu của Geryon sửa soạn."

Người quản gia lúc trước cúi chào.

Hình như một số người hầu của ông Geryon vẫn ở lại sau khi ông ta qua đời. Tôi không biết có phải họ đơn giản là vì lòng trung thành hay vì vẫn chưa xong hợp đồng giao ước, nhưng nghĩ đến việc họ vẫn còn ở lại đây sau cái chết của người chủ khiến cho tôi thấy lạnh sống lưng.

"Cho đến khi người thừa kế được quyết định, tôi cũng sẽ trú lại trong lâu đài này theo dự định. Tôi mong chờ được cộng tác cùng các vị."

***

-Vậy quay trở về thời điểm hiện tại.

Trong phòng của chúng tôi.

Ánh sáng lờ mờ từ một cây nến dùng để thắp sáng căn phòng, mà đúng như đã đoán, đầy kín các Thiên Sứ. Từ các bức tranh trên tường đến các họa tiết trên các tủ, đến các con búp bê trên các giá xếp và lớp kính chụp đèn, các Thiên Sứ ở khắp mọi nơi. Dường như sự ám ảnh của Geryon Ashborn quá cố đối với Thiên Sứ khá là triệt để.

Tôi đang ngồi trên giường. Sau khi đi loanh quanh trong lâu đài vài tiếng đồng hồ, và vụ rắc rối với Luvia lúc nãy, chúng tôi cuối cùng cũng tìm được đúng căn phòng - có khắc tên Thiên Sứ Mihael - và có thể thở phào.

"'Kẻ nào bắt được Thiên Sứ của ta, sẽ trở thành người thừa kế gia sản' à?"

Sư phụ tôi lầm bầm trong khi ngồi trên ghế sofa. Cởi áo khoác và áo jacket, ngài bắt đầu xoa bóp đôi chân mỏi mệt của mình. Vừa làm, ngài vừa lấy một điếu xì-gà trong hộp đựng và đưa nó lên miệng. Mùi khói nhanh chóng lan ra trong phòng, ám lên các vật dụng trông có vẻ đắt tiền. Đáng lẽ ra tôi phải thấy phiền lòng vì điều đó, nhưng tôi quyết định không nhắc đến.

Bởi vì qua việc ngửi mùi hương này, tôi cảm thấy như quay trở về căn hộ của sư phụ tôi như lúc thường.

Cẩn trọng giấu đi suy nghĩ trong đầu, tôi lấy một hơi sâu và vỗ lên hai má của mình. Nghe âm thanh ấy, sư phụ tôi quay sang nhìn tôi, thế là tôi nói.

"…Thưa sư phụ, ngài có hiểu được ý nghĩa của mấy câu đó không ạ?"

"Thôi nào, hiện tại đang có quá nhiều phương án. Dù gì thì Thiên Sứ cũng ngập đầy thế này cơ mà."

Ngài nói tuyệt đối đúng. Tiền sảnh, căn phòng này, các hành lang, và các bậc thang… Các Thiên Sứ bày ở khắp mọi nơi, đến mức gây ra cảm giác tù túng. Nếu đếm kỹ, riêng số lượng mà chúng tôi thấy thôi cũng dễ lên đến một trăm. Nếu muốn xét xem có bao nhiêu Thiên Sứ trong cả lâu đài, tôi thậm chí không thể tưởng tượng nổi.

"Mà dẫu không phải như vậy đi nữa, thì bản thân đề tài Thiên Sứ cũng đã được sử dụng quá rộng rãi trong lịch sử và các khu vực. Nếu đã thu thập chừng này biểu tượng thì trái lại, phần tiêu điểm sẽ bị lu mờ đi. Quả thực, khó mà phân biệt được từ đâu đến đâu là liên quan đến ma thuật, từ đâu đến đâu là sở thích đơn thuần."

"Ihihihihi! Cứ trưng cái đống kiến thức rộng rãi đó ra là có thể che đậy sự bất tài của bản thân đấy nhỉ?"

Gần bên tay phải của tôi, một giọng nói vang ra. Nhưng lần này, sư phụ tôi không bỏ qua nó.

"Gray, trò lôi Add ra đây cho ta được không?"

"Vâng."

Thế là tiếng nói thứ ba bỗng nhiên bắt đầu hoảng sợ.

"C-Chờ đã, Gray! Cô định bán đứng tôi đấy à?"

Lờ đi lời kêu ca, tôi phất tay, gỡ cái móc dưới tấm áo trùm của mình, để cho một cái lồng dài và mỏng rơi xuống đất. Bên trong cái lồng đó là một vật có hình thù kết từ nhiều khối lập phương nhỏ. Nó trông tương tự như đồ chơi Khối Rubik mà tôi đã được thấy khi tới Luân Đôn, nhưng ngoài chuyện có nhiều chi tiết tinh tế và phức tạp, nó còn có chi tiết trạm trổ hình đôi mắt và cái miệng ở mặt trước.

Đôi mắt đó xoay chuyển như đang nhìn về phía tôi.

"C-Cô! Tôi tưởng dù sao chúng ta cũng đã làm bạn bè với nhau được hơn mười năm rồi cơ mà! Cô chẳng có mấy người bạn, nên hãy bảo vệ tôi một chút, không, ít nhất cũng tỏ ra do dự khi làm, thế mới là tình người chứ! Không, bây giờ cô hối hận và giấu tôi đi thì cũng chưa muộn đâu! Giấu tôi đi mà! LÀM ƠN GIẤU TÔI ĐI MÀ!!"

Cái miệng nói liến thoắng.

Đây là hình dạng thật của tiếng nói thứ ba luôn xen vào cuộc nói chuyện giữa chúng tôi.

Add.

Một dạng Lễ Khí mà tôi nhận được khi còn ở ngôi làng quê tôi. Tôi chưa được thấy nhiều Lễ Khí, nhưng đối với tôi thì món đồ biết nói này vẫn khá là dị thường.

Thay vì giống sinh vật sống, “ông ta” lại giống như một hình họa 3D mà tôi được biết đến sau khi đến Luân Đôn. Đối với tôi, ông đã ở đây từ cái này tôi sinh ra - phải đau đớn thừa nhận rằng ông thật sự là người bạn đầu tiên của tôi - nên tôi không hề nhận thấy ông có gì lạ cả. Nhưng mà, khi sư phụ tôi lần đầu tiên thấy ông ta, ngài đã vô cùng kinh ngạc, đến nỗi trông như muốn tháo rời ông ra.

Giờ là như thế đấy.

Nắm lấy mặt trước của cái lồng, ngài ra sức lắc nó lên xuống như một người pha chế cocktail.

"Ặcạcạcạcạcạcạcạcda!"

Add la lối. Nện chiếc hộp trong lồng vào khắp mọi chỗ, đến khi nhận định rằng đã trừng phạt ông ta đủ rồi, sư phụ tôi quăng trả cái lồng lại cho tôi.

"Tốt. Mà, ta và trò sẽ điền đầy đủ chi tiết bản đồ ghi chú trong khi điều tra lâu đài."

"…Ừm, cả em nữa ạ?"

"Không có trò hộ vệ thì ta làm được gì chứ? Nói cho rõ ràng nhé, nếu vướng vào trận chiến với bất cứ pháp sư nào trong số họ, thì ta cũng sẽ chết thôi."

Ưỡn ngực ra, ngài muốn chứng tỏ mình vô năng như thế nào. Tất nhiên, lời tuyên bố của ngài xếp gọn vào cùng với những nhận định trước đây của tôi, nhưng tôi mong ngài ấy cố gắng giấu điều đó nhiều hơn chút nữa.

Có lẽ cảm xúc đó đang hiển hiện trên mặt tôi, bởi vì…

"Thất bại trong việc trưng ra một bộ dạng thừa thãi, chỉ thế thôi là quá đủ cho tuổi thanh xuân của ta rồi." Sư phụ tôi nói.

-Tuổi thanh xuân của ngài.

Thực ra ngài nói thế là có ý gì? Tôi không hiểu rõ lắm khái niệm "thanh xuân" ở đây, nhưng tôi hoài nghi liệu sư phụ tôi từng có một thời như thế. Nhìn sư phụ tôi như hiện giờ, đang nhả khói xì-gà, tôi không thể tưởng tượng ra điều gì ngoài chuyện ngài từ khi sinh ra đến bây giờ vẫn giống như vậy. Việc đó thậm chí có chút phật lòng.

Có thể bởi thế mà tôi đột nhiên cảm thấy muốn hỏi ngài một câu.

"Tại sao sư phụ lại muốn thừa kế Lâu Đài Biệt Cư này thế ạ? Em nghe nói nhà El-Melloi đang gánh nhiều khoản vay, nên có phải việc này là để trả số nợ ấy?"

"Nghe cho rõ này."

Với một nụ cười nhăn nhó, sư phụ tôi nhướn một bên mày. Chạm một ngón tay lên điếu xì-gà đã ngắn lại của mình, ngài hơi nheo mắt lại.

"Tất nhiên là ta cũng muốn trả nợ. Nhưng nếu việc thừa kế nơi này có gì đó liên quan đến Khắc Ấn Ma Thuật đúng như lời đồn, thì nó sẽ mang một ý nghĩa quan trọng hơn đối với ta và Reines."

"Với Reines-san sao ạ?"

Tôi không ngờ là tên em gái của ngài được nhắc đến ở đây, nên có hơi cao giọng hơn so với chủ ý của mình. Nhưng khi nghĩ lại, vì có yêu cầu của chị ấy mà sư phụ tôi mới phải đến đây. Sau khi gặp tất cả các pháp sư kia và biết được về việc thừa kế, tôi đã hoàn toàn quên mất, nên khi đột ngột chuyển sang đề này, tôi bị mất cảnh giác.

"Rốt cuộc thì, đó là lý do để một kẻ như ta lại được quyết định là người thừa hưởng cái tên El-Melloi mà." Ngài nói, đặt xì-gà lên cái gạt tàn. Điếu xì-gà cụt ngủn, mục đích sử dụng của nó đã hoàn tất, để lại một làn khói nhỏ nhanh chóng biến mất. Tương tự như nó, dường như cuộc nói chuyện này đã đi đến kết thúc.

"-Thôi, trước hết hãy đi ngủ cái đã. Ngày hôm nay đã mệt mỏi quá rồi."

Vươn vai, sư phụ tôi nằm xuống sofa.

"Sư phụ?"

"Tiểu thư, trò dùng giường đi nhé. Tới chỗ phòng dành cho người hầu nam thì rắc rối lắm, nên ta sẽ định cư trên ghế sofa vậy."

Nói thế, ngài nhắm mắt mà không chờ lời đáp. Thậm chí dù không cần tắm rửa, ngài cũng chẳng chuẩn bị gì trước khi đi ngủ ngoài việc cởi áo jacket. Đối với chuyện này, cô em gái nuôi Reines luôn luôn dành cho sư phụ tôi cái nhìn sát ý, nhưng tôi cất giọng vì một lý do khác.

"Nhưng thưa sư phụ."

Tôi nói, rồi lại thôi.

Ngài đã ngủ mất rồi.

Ngoài dự đoán, có vẻ như lời nhận xét của ngài rằng ghế sofa thoải mái hơn chẳng hề là lời nói dối. Điều này khá quen thuộc khi thấy ngài ngủ trên sofa trong căn hộ hoặc phòng thí nghiệm. Tôi đã từng thấy nhiều lần đến mức phát chán với việc ngài ngủ trên sofa cùng với máy chơi game console trên tay.

Nhưng bây giờ-

"..."

Im lặng, tôi ngó xuống gương mặt của ngài. Có thể vì ngài luôn luôn nhăn nhó nên có những nếp nhăn mờ ở giữa cặp lông mày của ngài. Chúng khá rõ ràng lúc này, nên sau một thời gian, chắc hẳn chúng sẽ đủ sâu để trông giống vết sẹo. Có thể đây là ý nghĩa của câu nói thêm tuổi là thêm nếp nhăn.

Cả hữu hình lẫn vô hình.

Tay tôi duỗi tay ra, chỉ dừng lại trước khi các ngón tay chạm vào má ngài. Giờ thì chỉ có vài cen-ti-mét giữa chúng tôi, nhưng tôi vẫn không thể chạm vào ngài.

"Hihi! Sao thế, Gray? Có phải cô đã phải lòng chỉ với việc ngắm bộ mặt đang ngủ của ổng?"

"..."

Tôi thấy không cần phải đáp lại.

Nắm chặt lấy cái lồng bằng một tay, tôi bắt đầu quay nó lòng mòng bằng mọi sức lực.

"Hạcdaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa!"

Sau khi nghe tiếng kêu thê thảm của nó, tôi cảm thấy có phần thư thái.

"…Cảm ơn."

Khi nói, tôi cúi chào hướng về phía sofa.

Tôi leo lên giường và kéo chăn, chúng phảng phất mùi xì-gà. Điều này hết sức không thoải mái.

Chỉ vài phút sau, tâm trí tôi chìm vào trong bóng tối ấm áp của giấc ngủ.

***

Sáng hôm sau, tôi dậy sớm hơn sư phụ tôi một chút.

Sau khi thay đồ, tôi kéo mở rèm và tắm mình trong ánh nắng ban mai. Tôi không đặc biệt thích mặt trời nhưng trong môi trường này, các biểu tượng thông thường, cuộc sống hàng ngày hiếm hoi như vậy đấy. Sau khi hít một hơi sâu, tôi lấy lại Add ở trên đầu tủ giường.

Quay qua, tôi gài cái lồng lại vào ống tay áo phải của mình. Khoảng phân nửa dưới áo khoác, tôi chỉnh cho nó nằm giữa vai và cùi chỏ của mình. Nhưng bên ngoài nhìn vào thì nó hầu như vô hình. Sư phụ tôi có vẻ ấn tượng về việc đó, nhắc đến thứ gì đó như Derringer[2], nhưng tôi không rõ ý ngài là gì.

Quay lại, tôi điều hòa lại hơi thở một chút trước khi nói.

"… Sư phụ ơi, ngài vẫn chưa thức dậy ạ?"

Một tiếng rên khó tả đáp lại câu hỏi của tôi.

"…Em sẽ chuẩn bị y phục mới cho ngài."

Việc này cũng vậy, cũng là cuộc trao đổi vào buổi sáng thường này giữa chúng tôi. Dù nói vậy nhưng chúng tôi không thường hay ngủ chung phòng nên chuyện này vẫn có hơi kỳ cục.

Đặt mớ quần áo mà tôi lấy ra từ va-li gần tầm với tay của ngài, ngài bắt đầu thay đồ, với đôi mắt vẫn nhắm, và vẫn nằm trên sofa. Ngài chắc vẫn còn ngái ngủ. Cố không lo lắng quá về việc này, tôi chuyển sang chuẩn bị những thứ khác. Các điếu xì-gà của ngài là những thứ duy nhất mà ngài vui lòng mang theo bên mình, nên đến lúc này thì công việc của tôi là mang vác dùm ngài những thứ như khăn tay và một vài thứ nho nhỏ khác. "Ổng là gì chứ, con nít tiểu học chắc?" là câu mà Add muốn nói. Thật sự thì tôi đồng tình với ông ta.

Chỉ đến khi mọi thứ gần như sẵn sàng, ngài mới nói.

"Chào buổi sáng, tiểu thư."

Với câu nói đó, xem ra ngài cuối cùng cũng thức dậy. Ngài mơ màng ngồi dậy từ ghế sofa, dụi mắt.

"…Cổ áo của ngài bị xoắn."

Sau khi ngài chỉnh lại cổ áo và chải mái tóc dài, chúng tôi rời khỏi phòng.

Phòng cho khách mà chúng tôi được dẫn đến là một trong các phòng chính giữa tầng hai của lâu đài. Phần nội thất của lâu đài không đến nỗi phức tạp, nhưng từ kích thước của các phòng và độ rộng của các hành lang, nó khiến cho hơi thở của tôi loạn nhịp. Dù sao thì, các bức tường có trưng bày các bức bích họa thường thấy và các tượng Thiên Sứ. Kể từ lúc đến lâu đài, nhờ có điều mà sư phụ tôi nói về cách thức hóa giải khái niệm Thiên Sứ, tôi đã liên tiếp khắc phục thứ ảo giác bẫy chúng tôi vào vòng lặp bất tận.

Khi chúng tôi đến gần một trong các phòng lớn ở tầng hai, Add bắt đầu run rẩy.

"Ô ồ, mùi gì mà ngon quá vậy?!"

Lần cuối mà tôi kiểm tra thì cái hộp không có mũi, vậy làm sao mà ông ta ngửi được?

Nhưng mà ông nói đúng. Có một mùi hương rất thơm đến nỗi khiến cho bụng tôi sôi lên thấy rõ. Và cũng không chỉ có một mùi, mà là cả một tràng các hương thơm hài hòa một cách hoàn hảo.

Ngay lúc chúng tôi mở cửa, nguồn tỏa ra mùi hương đó trở nên hiển nhiên.

"Chào buổi sáng, Lord El-Melloi II."

Ở giữa căn phòng lớn có đặt một cái bàn đá hoa cương lớn, đủ lớn cho hai mươi người ngồi thoải mái. Đứng ngay bên cạnh nó là Hishiri Adashino, và khi thấy chúng tôi bước vào, cô quay sang chào hỏi chúng tôi.

"Tôi xin lỗi vì đã không thể chào hỏi các vị đàng hoàng hơn vào ngày hôm qua."

"Xin đừng đắn đo về chuyện đó. Chào buổi sáng, cô Adashino." Sư phụ tôi đáp lại lời chào với một vẻ rõ ràng là lo âu, và lập tức nhận được nụ cười tươi của Hishiri.

"Anh cứ gọi là Hishiri đi, tôi không phiền gì đâu mà."

Tôi tự hỏi có bao nhiêu người đàn ông vui lòng dâng hiến linh hồn của họ chỉ vì nụ cười đó. Diện mạo phương Đông bí ẩn của cô rõ ràng là khuấy động sự tò mò của những người thuộc cả hai giới tính. Trang phục lộng lẫy của cô, với màu sắc tươi sáng, các nếp gấp, như để ẩn giấu sâu hơn nữa sự ngọt ngào nữ tính. Nhìn kỹ hơn, có vẻ như thiết kế phức tạp của bộ kimono mà cô mặc là loại áo dệt thủ công, càng làm dấy lên hơn nữa nỗi lo sợ trong lòng tôi. Sư phụ tôi từng nói rằng Nhật Bản là một đất nước kỳ lạ, nơi mà người ta làm nhà chẳng từ gì ngoài gỗ và giấy, nhưng có lẽ đất nước ấy có những điều bí ẩn thậm chí còn to lớn hơn ma thuật của nó. Như ninja chẳng hạn.

"Đáng tiếc, tôi lại là một kẻ nhút nhát. Tôi không giỏi giao tiếp với những phụ nữ đẹp đâu."

"Ồ, nhưng anh lại dẫn theo một người tùy tùng đáng yêu thế cơ mà." Cô nói, chuyển ánh mắt sang tôi.

Tôi rụt lại trong vô thức, lùi sâu vào trong mũ trùm của mình. Tất nhiên đối với tôi, không phải vì tôi kém cỏi khi tiếp xúc với phụ nữ đẹp. Tôi kém cỏi khi tiếp xúc với bất cứ ai mà tôi không biết.

"Có lẽ nào, em khoác mũ trùm đầu cả khi ở trong nhà là để giấu đi gương mặt dễ thương của mình à?"

"Đích thị. Tôi không muốn thấy."

Hishiri nở một nụ cười kỳ quặc, như thể cô bị bất ngờ với lời đáp này.

"Anh quả đúng là một người thú vị. Khi nào trở về Tháp Đồng Hồ, tôi muốn được thư thả nói chuyện nhiều hơn với anh đấy."

"Cô thứ lỗi cho, nhưng nếu mà có quan hệ thân thiết với Khoa Pháp Chính, tôi sẽ không thể chịu được sự xấu hổ."

"Nếu là anh thì đâu có ngại những lời bình luận đó nhỉ? Đi tiên phong dẫn dắt các Tân Hệ , anh là đứa con cưng của Tháp Đồng Hồ cơ mà."

"Cái đó chỉ đem lại toàn rắc rối thôi. Nếu không thì người ta đâu có giao Khoa Ma Thuật Hiện Đại cho tôi chứ?"

Sư phụ tôi đằng hắng.

Vị thế hiện tại của sư phụ tôi tại Tháp Đồng Hồ là kết quả của một cuộc trao đổi có qua có lại, theo nhiều nghĩa khác nhau.

Từ đây, chúng tôi xác định chỗ ngồi của mình. Trước mặt Hishiri là một đĩa sứ và một cái bát sơn mài, cùng với một đôi đũa. Trên đĩa là một món cá sốt gì đó, và một cái chén toàn cơm trắng. Nói các khác, đó là một bữa sáng kiểu Nhật.

"Hình như chỗ ngồi của chúng ta đằng kia." Sư phụ tôi nói, nhìn ra tận cuối bàn ăn.

Trước một bộ khăn ăn có thêu biểu tượng của gia tộc El-Melloi, có bánh mì nướng, trứng luộc, thịt dồi, và đậu hầm được bày cùng với bộ đồ dùng bằng bạc. Về cơ bản, đây là bữa sáng truyền thống của người Anh.

Đây là nguồn tỏa ra các mùi hương mà chúng tôi nhận thấy lúc nãy.

Quanh bàn có đặt các xuất ăn rất đa dạng, mỗi loại nói lên khẩu vị và xuất thân của vị khách mời.

Việc đi ngược lại ý kiến cộng đồng về ẩm thực Anh Quốc bắt đầu từ cuối Thế kỷ 19, khi mà giới trung lưu bắt đầu thuê mướn hầu gái đa dụng. Các thiếu nữ trẻ này được thuê từ miền quê mà không xét đến kỹ năng nấu nướng của họ, dẫn đến các chuẩn mực nấu ăn trên toàn quốc bị giảm sút thấy rõ. Nhưng mà dường như người hầu của nhà Ashborn hoàn toàn không thay đổi theo trào lưu.

"Xem ra họ đã có tìm hiểu về chúng ta." Sư phụ tôi càu nhàu bước đến chỗ của mình.

Tất nhiên, không đời nào họ có thể biết khẩu vị và xuất thân của các vị khách mà không làm thế. Nó khiến tôi tự hỏi Geryon Ashborn đã biết được bao nhiêu về chúng tôi trước khi ông ta qua đời. Ông đã nghĩ gì khi gửi những lá thư mời ấy, và đặt cho chúng tôi những cái tên Thiên Sứ ấy?

Khi tôi đang mải ngẫm nghĩ-

"Ồ, chẳng phải trông cũng thịnh soạn đấy ư?"

"Ô, là đồ ăn chay à? Có cả nấm trân châu rang với đậu phụ nữa nè! Dương xỉ thì có thể lấy được ở quanh đây rồi, nhưng thổ đương quy với măng mà cũng kiếm được thì hay quá!"

Các vị khách khác lần lượt đến phòng ăn.

"Heine-Nii-san! Uống với tôi đi!"

Lấy ra một cái chai rượu sake Nhật Bản của riêng mình, người này không phải ai ngoài Tokitou Jiroubou Seigen. Bất chấp sự kết hợp kỳ quặc giữa tấm bịt mắt và áo thầy tu Viễn Đông, chỉ sau vài giây gặp mặt, điều đó không còn khác lạ nữa.

Nhân tiện, hình như Heine và Rosalind đang trở nên thân thiết với anh ta, khi mà anh cùng ăn sáng với họ.

"Thôi, tôi xin thứ lỗi, chứ uống rượu từ lúc sáng sớm thì…"

"Không không, tôi thích Nii-san mà. Một cốc đầy nào!"

"…Thôi thì, tôi đã hứa rồi nhỉ."

Bằng một nụ cười có chút cay đắng, Heine cầm lấy cái ly. Bằng một cử động nhanh nhẹn, anh làm một hơi cạn sạch ly, khiến gương mặt của Yamabushi độc nhãn ánh lên.

"Ô, uống khá đấy chứ! Còn em gái ấy thì… chưa dùng được Bát Nhã Thang[3] đâu nhỉ? Cho nhờ chút anh phục vụ ơi, trà đen cho cô bé này nhé." Anh ta nói với một trong những người hầu đứng gần đấy.

"…Cảm ơn." Cô bé nhận lấy tách trà với một cái gật nhẹ để cảm ơn.

Nhìn em cau mày sau khi làm một hớp trà, Heine nở một nụ cười dịu dàng.

"Có lẽ Rosalind vẫn còn quá nhỏ để uống nó nhỉ."

"E-Em uống được!" Em ấy phản đối, nắm chặt lấy tách trà.

"Anh hiểu mà. Cho nên, để anh thêm ít sữa vào nhé? Như thế mới là cách uống của một quý cô chứ."

"…Thật ạ?"

Rosalind nghiêng đầu sang bên, tạo nên ấn tượng giống như một con chim trắng nhỏ. Vì lý do gì đó, khi làm thế, em quay sang phía chúng tôi.

"Lord El-Melloi II-sama, có thật thế không ạ?"

"?!!"

Không phòng bị trước câu hỏi bất ngờ, sư phụ tôi giật thột. Sau khi khó nhọc để tránh bị nghẹn, ngài đằng hắng và ngồi ngay ngắn lại, rồi gật đầu.

"Là thật đó, thưa tiểu thư. Đúng như Onii-sama của cô đã nói đấy. Trà sữa là thức uống dành cho những người thanh lịch, nên cứ an tâm mà cho vào đi. Nếu có thể thì cho đầy tràn cũng được."

"Vâng! Cám ơn ngài ạ!" Với một nụ cười tươi, em cầm chiếc tách giờ đã thêm sữa. Lần này, em tỏ vẻ thật sự thích thú với thức uống này.

Thấy vậy, tôi nhẹ nhàng nhận xét.

"…Đôi khi em lại nghĩ, sư phụ thật là ngọt ngào với trẻ con nhỉ?"

"…Miễn bình luận." Ngài nói, tránh ánh mắt của tôi.

Chỉ một chút, tôi có thể thấy hai tai của ngài ửng đỏ. Không chú ý đến sự ngượng nghịu của ngài thêm nữa, tôi quay sang lối vào phòng.

"Ồ, chẳng phải là sake đây sao! Lại còn có mùi thượng hạng nữa!"

Bằng cái mũi chun lại, Flue bước vào phòng.

"Tránh ra! Đây là báu vật mà tôi mang từ tận Nhật Bản đến!"

"Đừng như thế mà! Đây, tôi sẽ bói cho cậu một quẻ để đổi lấy nó nhé!"

Khi ông ta tháo đai lưng, không khí ngạc nhiên lan khắp bàn. Trên cái đai ấy xếp khoảng một tá dao găm. Cán gỗ vừa vặn để có thể sử dụng nhanh chóng, nhưng lưỡi dao được mài bóng đến một độ sáng dễ sợ.

"Ra thế, chuyên môn của ông là thuật chiêm tinh nhỉ." Sư phụ tôi nói nhỏ, chỉ vào các ký hiệu chòm sao in trên các con dao. Ngay cả tôi, người chưa được học gì nhiều, cũng có thể nhận ra mười hai biểu tượng Hoàng Đạo khắc trên chúng.

"Chính xác. Nếu là bình thường thì dù có chồng một xấp tiền lớn cũng phải đợi nhiều tháng, nhưng hôm nay, vào lúc này, tôi sẽ làm một cuộc mặc cả đặc biệt. Cố đừng khóc khi cảm ơn tôi nhé!"

Flue cầm các con dao như cầm các lá bài. Thay vì giống một người biểu diễn ném dao, ông tỏ ra ấn tượng như một thầy bói đang xoay Bánh Xe Vận Mệnh.

"Nào, quý khách, tên và ngày tháng năm sinh… à mà cái đó là điều cấm kỵ giữa các pháp sư với nhau nhỉ. Hãy giao phó tất cả cho những vì sao và lưỡi dao vậy, trước hết hãy xem số mệnh nào!"

Bốn con dao phóng lên. Các lưỡi dao lơ lửng một cách không tự nhiên trên không, gần như thể vị trí của chúng đang tạo hình một chòm sao, trước khi chúng rơi xuống bàn. Nhưng trước khi đụng vào bàn ăn bằng đá hoa cương, chúng cắm vào thứ khác.

Một cái đĩa nhỏ.

Hệt như cái đĩa đã tấn công Heine ngày hôm qua, giờ đang làm nhiệm vụ cản trở chuyển động từ con dao của Flue. Với một vẻ nhăn nhó, Yamabushi độc nhãn buộc lòng phải chìa chai rượu ra.

"Tha cho tôi vụ tự ý bói toán cho người khác đi. Nếu là sake thì tôi sẽ chia cho ông mà, nên thả tay xuống dùm cái."

"Hê hê, cảm ơn lòng tốt của anh."

Nhận lấy chai rượu với tư thế cảm tạ, ông cầm nó về chỗ của mình và rót vào ly. Chất lỏng màu trắng sữa trông có vẻ không hợp với ly uống rượu, nhưng mùi thơm nồng quả thật kích thích khẩu vị. Flue vui vẻ làm một hơi cạn ly rượu, và sau một tiếng thở ra mãn nguyện, ông lại tự rót thêm một ly nữa, nhận lấy cái nhìn không vui từ Seigen.

"Này! Anh định uống bao nhiêu nữa vậy?"

"Đừng cau có như thế. Anh sẽ bị hói sớm đấy biết không."

"Hói chẳng liên quan gì ở đây cả! Gì cũng được, trả rượu lại đây!"

Quan sát vụ cãi cọ ngu ngốc nổ ra giữa hai người bọn họ-

"…Thật là man di."

Một nhận xét được nêu ra đằng sau bọn họ.

Khác với giọng quyến rũ của Hishiri, giọng nói này mang đến sự ngọt ngào và đẹp đẽ của những bông hoa mới nở. Người đầu tiên lên tiếng chào hỏi cô ta là sư phụ tôi.

"Luviagelita Edelfelt."

"Tôi có thể ngồi cạnh ông được chứ?"

"…Xin cứ tùy ý."

Bất chấp vẻ miễn cưỡng rõ ràng, ngài vẫn gật đầu. Dù sao cũng không thể phủ nhận rằng biểu tượng của gia tộc Edelfelt in trên bộ khăn ăn bên cạnh chúng tôi.

Đứng sau cô là một người đàn ông diện kiểu tóc bờm ngựa mà tôi chưa từng thấy trước đây. Anh ta cao gần hai mét, với đôi vai rộng gần bằng nửa chiều cao. Trái ngược với kiểu tóc và cặp kính râm khá nổi bật, anh diện một bộ đồ nghiêm túc màu đen từ đầu đến chân. Nếu mang theo thứ gì đó kiểu như súng máy, anh sẽ trông như vừa mới nhảy ra từ một bộ phim về mafia - anh có cái vẻ vạm vỡ ấy.

Như thể nhận thấy ánh mắt của tôi, Luvia giới thiệu anh ta.

"Đây là người hầu nam của tôi, tên là Clown. Đáng tiếc là tôi đã lệnh cho những người hầu khác về nhà, nên anh ta là người duy nhất có mặt cùng tôi lúc này."

"Clown [chú hề]? Cái tên nghe có vẻ không hợp lắm với người."

"Con người ta đâu thể quyết định tên gọi của bản thân chứ." Luvia trả lời với một cái phất tóc.

…Ừ thì, để uốn mái tóc được như thế, chắc hẳn là cô ta khó mà tự làm được. Nhưng tôi đoán rằng một pháp sư của cỡ như Luvia có thể làm được điều đó bằng ma thuật của mình.

Sau màn giới thiệu, sư phụ tôi chuyển ánh mắt sang lối vào một lần nữa.

"Có vẻ như ngài Orlocke sẽ không dùng bữa cùng chúng ta."

Orlocke Caesarmund và cậu bé đồng hành cùng ông ta là những người duy nhất vẫn chưa đến bàn ăn sáng. Một chỗ trên bàn dành cho họ vẫn chưa được bày biện. Hình như ông đã yêu cầu người hầu của nhà Ashborn mang bữa ăn đến tận phòng mình.

Tất nhiên là tôi không thích ông ta cho lắm, nhưng thậm chí vai của sư phụ tôi cũng giãn ra một chút trong nhẹ nhõm khi cầm con dao lên.

Tự lấy đồ ăn cho mình, sau khi cắn miếng đầu tiên, tôi ngừng lại. Cả dồi lợn lẫn đậu hầm đều được chế biến và nêm nếm hoàn hảo đến nỗi tôi suýt kêu lên một tiếng khoan khoái. Ở chỗ Krishna nấu ăn khá giỏi, nhưng sự khác biệt về nguyên liệu quá lớn để có thể vớt vát bằng kỹ năng. Mặt ngoài của dồi kết hợp với vị cay của tiêu, và sự pha trộn của các hương vị trong món đậu hầm và khoai tây điểm tô thêm, quả là một trái nghiệm phi thường. Như thể mong cầu sự kết hợp của bánh mì nướng giòn phết chút bơ nhạt, tôi vô thức vươn tay về phía chúng. Thậm chí nước trong ly là đồ uống có ga càng kích thích khẩu vị thêm nữa. Giữa trạng thái phơi phới ấy, một nụ cười nở ra trên gương mặt sư phụ tôi.

Nhưng lần này nó không đến mười phút.

Khi chúng tôi đang dùng bữa ăn thỏa mãn tất cả mọi người-

"-Tôi có một chuyện này, mọi người có thể nghe chứ?"

Luvia bỗng nói.

Ánh mắt của mọi người trong phòng đổ dồn vào cô. Ngay cả trong căn phòng đầy những pháp sư tài giỏi, cô vẫn có một sự thu hút không thể kháng cự.

"Đêm qua, tôi đã được Lord El-Melloi II-sama chỉ cho một gợi ý về 'Tên Thiên Sứ' của chúng ta."

"!!!"

Dành cho sư phụ đang giật mình của tôi một nụ cười kiêu kỳ, Luvia nói tiếp.

"Ngài ấy nói rằng chúng được đặt theo Schemhamphoras."

Khắp phòng, một số ít người cho thấy vẻ hoảng hốt trước thông báo này, trong khi số còn lại có vẻ đang gật gù như thể nghi vấn của họ vừa được xác nhận.

Ánh mắt của cô chuyển qua sư phụ tôi, như muốn nói "Thế là chúng ta huề".

Che đậy hết sức có thể, tôi hỏi sư phụ tôi một câu.

"...Ưm, sư phụ. Schemhamphoras là cái gì thế ạ?"

"..."

Sau khi nghe câu hỏi đã làm tôi phân vân bấy lâu, không phải sư phụ tôi mà là người khác đáp lại.

"…Nó nằm trong 'truyền thống' – Kabbalah[4]. Đại khái, nó có nghĩa là một 'bộ tên' - Schemhamphoras." Vuốt lên bộ mặt râu ria của mình, Flue ngồi gần bên trả lời thay cho sư phụ tôi.

"Một bộ tên sao?"

"Tổng cộng có 72 thiên sứ. Với nguồn gốc là từ bộ Sách Xuất Hành[5]. Mấy câu văn trong Kinh Cựu Ước nói về lúc Moses tách đôi biển cả. Chính là 3 câu từ đoạn 19 đến đoạn 21 bằng tiếng Hebrew gốc, được tạo thành từ tổng cộng 72 chữ cái. Bằng cách ghép cả 3 chữ cái nằm trong 1 đoạn vào thành 1 từ, ta sẽ có được tên viết tắt của cả 72 thiên sứ. Mà, nghe thì có vẻ như chơi chữ, nhưng vốn dĩ Kabbalah từ lâu đã là Chơi Chữ [Notarikon] và Chơi Số [Gematria] rồi. Đoạn văn này là phần viết về kỳ tích vĩ đại nhất của Moses mà. Nó vẫn được đặc biệt xem xét theo rất nhiều ý nghĩa."

"...72 Thiên Sứ..."

Dường như ngần ấy thông tin là kiến thức chung của một pháp sư. Chỉ nghe đến từ Schemhamphoras, bọn họ đều hiểu cả.

"…Tổng lãnh thiên thần Michael xuất hiện trong nhiều truyền thuyết, nhưng Mihael thì rất hiếm. Để cho hai cái tên này chung một tập hợp thì chỉ có thể nghĩ tới Schemhamphoras mà thôi." Sư phụ tôi bổ sung bằng tiếng nói thì thầm mà chỉ có tôi mới nghe được.

"Chắc hẳn Thiên Sứ được hỏi đến trong di chúc của Ashborn đang được giấu ở đâu đó trong lâu đài này. Với việc dùng Schemhamphoras làm 'Tên Thiên Sứ' của chúng ta, thì rất có khả năng bản thân cái tên ấy sẽ trở thành một loại gợi ý nào đó. Các Thiên Sứ Schemhamphoras cũng liên quan nhiều đến 12 cung Hoàng Đạo và 72 Ác Quỷ của Vua Solomon nữa. Vì vốn là Kabbalah, nên nó hoàn toàn phù hợp để làm ám hiệu và câu đố đấy."

"...Chậc. Ông đã đi xa đến thế rồi cơ à?" Vừa gãi tai, Seigen cất tiếng.

Không biết liệu thật ra có phải là vị Yamabushi này cũng đã suy luận tương tự không nữa. Nhưng trước khi tôi nghĩ xa hơn, anh nói tiếp.

"Vậy thì, tại sao chúng ta không cùng chia sẻ tên Thiên Sứ của mình?"

Sự căng thẳng trong phòng dâng lên.

Như để lờ đi sự căng thẳng này, Seigen thản nhiên nghịch con ốc xà cừ đeo trước ngực mình với một nụ cười thân thiện.

"Trong tình hình hiện tại, chúng ta có quá ít gợi ý. Chẳng phải tốt hơn là nên công khai thông tin để cho mọi chuyện được tiến triển trôi chảy sao? Đằng nào thì 'Tên Thiên Sứ' cũng đã nằm trên bảng treo ở các phòng rồi, có giấu diếm thì cũng còn mấy ý nghĩa nữa đâu."

Sự im lặng tiếp sau đó là minh họa cho mâu thuẫn xuất hiện trong phòng. Tất nhiên, Seigen nói đúng. Mọi người muốn có thông tin, và những cái tên thì được in ngay trước cửa phòng - vì điều đó mà sư phụ tôi và tôi đã gặp phải rất nhiều rắc rối. Nó không phải điều mà ai cũng có thể mong giấu được. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ khác.

Cũng như thông tin về Schemhamphoras, nhưng chia sẻ thông tin một cách bất cẩn sẽ làm tăng khả năng quyền thừa kế bị cuỗm tay trên. Tất nhiên, cơ hội dành được nó cũng tăng theo, nhưng nếu so sánh mặt lợi và mặt hại, mặt nào lớn hơn?

Hiện tại, sư phụ tôi và tôi biết được hai cái tên Thiên Sứ.

Lord El-Melloi II có tên Mihael.

Luviagelita Edelfelt có tên Michael.

Vậy thì các pháp sư còn lại-

"-Thật đáng tiếc, nhưng tôi xin lui đây."

"A, Onii-sama."

Khi Heine đứng lên rồi rời khỏi, Rosalind cũng đi theo anh ta.

"Được, thế thôi nhỉ."

"Tôi cũng nghĩ, kết thân tới đây thôi là được rồi."

Flue và Luvia đều kết thúc phần ăn còn lại của mình và rút lui.

Che mặt và rền rĩ vì thất vọng trước sự từ chối của mọi người, rút cuộc Seigen cũng bỏ cuộc và rời bàn. Sau khi anh ta bỏ đi, thứ duy nhất còn vương lại trong phòng cùng với chúng tôi là sự lạnh lẽo thù địch mà bọn họ bỏ lại sau lưng, như thể chúng tôi bị vây quanh bởi bầy sói đang nhe răng đe dọa.

Một lần nữa, sư phụ tôi thở dài.

"Quả nhiên, chẳng có ai định cùng thân thiện cắt bánh chia nhau cả nhỉ."

"Ôi chà, thật là đáng tiếc đấy."

Hishiri, người duy nhất còn ở lại trong phòng ngoài chúng tôi, đang nở một nụ cười.

Có thể bởi vì là một người giám sát, cô không phải lo nghĩ trong lòng về mâu thuẫn này, mà nụ cười của cô trông như vừa mang vẻ trầm lặng của nhà hiền triết… vừa tỏ ra cực kỳ nham hiểm.

***

Khi đêm xuống, anh bắt đầu hành động.

Sau sự kiện xảy ra sáng hôm ấy, giống như hầu hết những pháp sư khác, anh yêu cầu mang bữa tối đến phòng mình. Đồng thời, anh dựng một kết giới bảo vệ quanh bốn góc phòng, giữ an toàn trước kẻ xâm nhập có thể có. Sau khi xác định rằng kết giới đã vận hành, anh hướng ra bên ngoài.

"...Onii-sama?"

Một cô bé gọi anh bằng giọng ngái ngủ từ trên giường, em dụi mắt.

"À, Rosalind. Anh làm em thức à?"

"…Ư."

Tiến lại gần cô bé đang ngất ngư, Heine vuốt lên mái tóc em ấy với một sự dịu dàng đến nỗi làm gợi lên một câu hỏi rằng anh có đang chạm vào em chút nào không. Nhìn đôi mắt nhắm lại của em trong sự thích thú, anh dành cho em một nụ cười nhẹ. Lấy lại quyết tâm của mình, anh rút tay về.

"Anh sẽ ra ngoài một chút. Vậy em ở lại một mình được chứ?"

"Em biết rồi ạ."

Mơ màng gật đầu, em e dè mở miệng.

"…Ưmm."

"Hử?"

Anh quay lại và nhìn em ấy như muốn kích lệ em nêu ra câu hỏi.

"Quả nhiên, anh sẽ chiến đấu với các pháp sư khác đúng không ạ? Cả với Lord El-Melloi II-sama đó nữa?"

Thế là anh cười một chút.

"Em thích người ấy rồi à?"

"...N-Nhưng nó không như với Onii-sama đâu ạ." Mím môi, Rosalind tránh ánh mắt của Heine.

Thấy vậy, anh không thể không nghĩ em ấy thật sự như một con chim nhỏ. Với chân tay của em trông rất mảnh dẻ, tựa như chúng có thể gãy trong tay ta, và chiếc áo đầm trắng tinh trông như cặp cánh non nớt. Em trông thật… mong manh.

Và đó là lý do mà anh yêu quý cô em gái nhỏ của mình hơn bất cứ thứ gì.

"Không sao đâu. Anh chỉ làm rõ những khúc mắc vừa xuất hiện thôi. Lord El-Melloi II cũng là một người khôn ngoan mà. Sẽ chưa có chuyện gì nguy hiểm ngay đâu."

Vẫn giữ sự bình tĩnh và dịu dàng đến phút cuối, Heine rời khỏi phòng.

Hành lang bằng đá yên ắng.

Heine quay mặt nhìn ra ngoài, nơi có ngọn gió đầu mùa Thu mang đến cái giá lạnh. Không chỉ về vấn đề nhiệt độ, có gì đó lẫn trong gió thấm vào tận trong tâm anh. Có thể nó là sự hiện diện của ma thuật.

"…A." Heine thầm thốt lên khi bắt đầu bước đi.

Lâu Đài Biệt Cư có kiến trúc hai tầng, kết cấu xây dựng méo mó của nó như thể dồn cả về một bên. Từ trên cao nhìn xuống, nó trông giống như Khúc Ngọc [Magatama] của phương Đông… có thể nói là giống một bào thai cuộn tròn. Như để bảo vệ nó, các bức tường trông giống cánh tay vươn ra ôm lấy nó, và các bức tường ấy tạo nên khu tiền viên rộng lớn.

Khi ra đến khu vườn nói trên, Heine chọn một hướng đi mới và bắt đầu cất bước.

Những bước đi của anh không hề do dự, không hề vô định.

Anh đang đi theo hướng được chỉ ra bởi tên Thiên Sứ của mình.

Chủ đề của cuộc nói chuyện bên bàn ăn lúc trước, Schemhamphoras - 72 vị Thiên Sứ được diễn giải thành một bộ tên, vốn cũng có thể được chuyển đổi thành 12 chòm sao Hoàng Đạo. Vốn dĩ 12 chòm sao Hoàng Đạo có thể chuyển đổi thành các phương vị với mốc chuẩn là Mặt Trời, nhưng nếu sử dụng 72 Thiên Sứ thì có thể xác định được chi tiết hơn nữa khi mà mỗi góc phương vị 5 độ ứng với một Thiên Sứ.

Lord El Melloi II Case Files Volume 1 Page 100
Lord El Melloi II Case Files Volume 1 Page 101

Nếu đã nắm được đến đó, những gì anh phải làm là đi theo hướng đó từ căn phòng của mình.

Tên Thiên Sứ của anh là Ariel. Liên quan đến biểu tượng Song Ngư [Pisces], nó là Thiên Sứ mang nghĩa "người làm sáng tỏ". Sự hiện diện của Thiên Sứ này không chỉ trong Kabbalah, mà còn ở những văn tự khác, như sử thi "Thiên Đường Đã Mất" của Milton. Nếu so sánh, Thiên Sứ này có thể được xem là một trong các Thiên Sứ khá nổi tiếng. Không chỉ giới hạn trong vị trí Thiên Sứ, cái tên còn xuất hiện trong tác phẩm "Giông Tố" của Shakespeare, là cái tên của tinh linh bão tố. Điều đó có nghĩa rằng ý nghĩa thật sự mà cái tên đại diện có thể là một trong các khả năng, nên nếu không có gợi ý của Lord El-Melloi về Schemhamphoras, việc đi đến kết luận để tìm hướng đi sẽ mất thời gian hơn một chút.

'Nhưng 'Tên Thiên Sứ' của căn phòng này là 'Michael' đấy chứ?'

Không may cho họ, Heine đã nghe được cuộc nói chuyện giữa Luviagelita và Lord El-Melloi II vào đêm hôm trước. Nếu như đã biết được 2 góc độ thì sau đó chỉ còn việc tìm cho ra giao điểm.

Bên ngoài trời có trăng tròn.

Không lâu sau, tán lá dày đặc của cây cối che khuất ánh trăng, và tiền viên chuyển sang khu rừng.

Heine không dừng lại. Không quan tâm đến cây cối và cành lá, anh đi thẳng một mạch xuyên qua gỗ cây. Y phục đặc biệt do nhà Istari cải tiến không gặp bất cứ trở ngại nào trước tác động thô bạo này.

Sau khi tiến thêm vài chục mét, Heine gặp phải một cơn nhảy mũi bất ngờ.

"Ở đây sao?"

Dừng lại, Heine ngẩng lên. Trước mặt anh là một cái bệ.

Chúng có được cho là Thiên Sứ hay không, anh không dám chắc. Rải rác quanh anh là một vài cái bệ, nứt vỡ theo nhiều kiểu khác nhau. Anh lờ mờ đoán được chúng từng là các bức tượng có hình dạng giống con người, nhưng đã bị phá hủy hoàn toàn, làm cho anh không thể biết được gì hơn.

"Hừm."

Heine thò vào trong áo jacket và lấy ra lá thư mời có tên Thiên Sứ của mình, thứ đang phát sáng lờ mờ. Tương tự như phương pháp bí ẩn khiến cho cái tên Thiên Sứ xuất hiện vào ngày hôm kia, các ký tự mới bắt đầu hiện hình.

Thiên Sứ là con thú. Nó chăm chú nhìn bầu trời phương Tây, và nuốt lấy mặt trời.

"...E rằng đây chưa phải là điểm cuối nhỉ??" Heine thì thầm khi nhìn vào dòng chữ mới.

Đúng hơn thì đây mới là chặng đường đầu tiên. Tất nhiên bất cứ ai cũng có thể đi đến đây, anh thầm nhủ cùng một nụ cười.

Nhưng anh không nản chí.

Một con thú ở phía Tây… điều này giới hạn lại khá nhiều khả năng.

Trong số 72 Thiên Sứ Schemhamphoras, những cái tên Thiên Sứ được tạo ra chỉ là một phần của trò ghép chữ kết hợp với những Thiên Sứ thật sự hiện diện trong thần thoại. Tìm ra cái tên nào có mối liên hệ với con thú và phương Tây chắc chắn là không đủ. Anh sẽ phải kết hợp thông tin này với manh mối nào đó có thể tìm thấy trong lâu đài.

Heine thận trọng chạm xuống đất.

Khu tiền viên của lâu đài được chăm sóc rất chỉn chu, nhưng không thể nói điều tương tự đối với khu rừng. Giữa chỗ đất ẩm và cây cỏ, Heine có thể nhận thấy bằng mắt một thứ hơi lởm chởm.

"…Dấu chân ư?"

Cất lại thư mời về chỗ cũ, anh lấy ra một vật mới trong áo khoác.

Hiện giờ nằm trên bàn tay ngửa của anh là một thứ trông như đồ chơi của trẻ con, nó là một con chó nhỏ làm từ các ống kim loại nhỏ. Đặt vật mô phỏng hình con chó bằng kim loại vào bụi dương xỉ, anh thầm nói một từ.

"Lưu ChuyểnConvert."

Trong phút chốc, dường như ngón tay của anh đang phát sáng. Tiếp theo đó, nó được trao cho sự sống.

Nhảy khỏi bàn tay của Heine, con vật bắt đầu đánh hơi quanh các cây cối như một con chó thật. Sản phẩm Hình Nhân Tự Động dạng người đã trở thành một dòng ma thuật lỗi thời, nhưng ngược lại, các lĩnh vực búp bê tự động khác chỉ mới bắt đầu phát triển.

Cụ thể, con chó bằng kim loại này là một phát minh đặc biệt. Nó là một trong các Lễ Khí của gia tộc Istari mà Heine mang theo bên mình. Nó là một sản phẩm giả kim thuật của nhà Istari, và có thể đánh hơi không chỉ mùi hương mà còn cả các bước sóng và dấu vết ma thuật còn lưu lại.

Một lúc sau, con chó kim loại xác định một hướng và bắt đầu đi tới, Heine bám theo sau.

Ra khỏi khu rừng, chàng trai một lần nữa hòa mình vào ánh trăng. Muôn vàn bông hoa đang nở trải dài trong khu tiền viên cùng chia sẻ ánh trăng với anh, đó có thể là một đêm tuyệt vời đối với các thi nhân và pháp sư. Tiếng bước chân khe khẽ trên cỏ là âm thanh duy nhất cho biết hướng đi của con chó giả kim và hiệp sĩ của nó.

Trước khi nhận ra, họ đã quay lại lâu đài. Băng ngang qua các bức tường lâu đài, Heine đi theo con chó cơ khí trong khi tâm trí anh thì để ở nơi khác.

…Mình đang bị theo dõi ư?

Một sự hiện diện nào đó mà Heine có thể cảm nhận được.

Nói chính xác hơn thì không phải tự Heine cảm nhận được điều đó. Đúng hơn thì nó là phản ứng của một vài viên ngọc, một Lễ Khí nữa mà Heine mang theo.

'Đặc biệt, 'Đá Sống' trong bí tàng của nhà Istari có thể sánh ngang với những vũ khí của các Anh Linh hạng yếu đấy, quả đúng là một tài năng lớn.'

Anh nhớ lại lời Lord El-Melloi II. Heine tất nhiên đã chú ý lắng nghe từng từ được nói ra trong trận giao đấu ngắn ngủi với Tokitou Jiroubou Seigen.

…Điều tra kỹ thật.

Không phải nhà Istari giữ "Đá Sống" của họ làm bí mật, mà là các ghi chép bàn về nó rất ít và rời rạc. Biết tên của nó là một nhẽ, nhưng số lượng pháp sư biết nó là một dạng vũ khí thì có lẽ gần như bằng không. Cho dù Heine không muốn thừa nhận nhưng người đàn ông đó quả thật có lượng kiến thức tương xứng với vị trí Lord.

…Anh Linh, hử?

Lord El-Melloi II chắc chắn biết rất nhiều về Heine, nhưng Heine cũng đã tự mình tìm hiểu một số chuyện. Khoảng gần mười năm trước, anh ta đã tham gia một cuộc xung đột rất gay cấn giữa các pháp sư ở Viễn Đông. Điều này vẫn được bàn tán trong cộng đồng pháp sư đến tận ngày nay.

Cuộc Chiến Chén Thánh Lần Thứ Tư.

Giống như cái tên, nó là một cuộc chiến diễn ra ở Viễn Đông.

Bề ngoài, nó là một cuộc chiến giữa các Anh Linh. Chén Thánh - mặc dù hầu như chắc chắn là không phải Chén Thánh thật sự trong tín ngưỡng Cơ Đốc Giáo - triệu hồi một số Anh Linh để đánh lẫn nhau, và người cuối cùng trụ được sẽ được ban cho điều ước. Thậm chí trong những gì mà các pháp sư quan tâm đến, nó vẫn là một "nghi thức" phi lý.

Kể cả Heine cũng không biết được chi tiết cuộc chiến này hoặc làm sao mà nó được che giấu.

Nhưng Lord El-Melloi II - vào lúc ấy được chỉ được biết với cái tên Waver Velvet - là người sống sót duy nhất trong số các pháp sư đại biểu cho Tháp Đồng Hồ tham gia cuộc chiến, và không nghi ngờ gì rằng điều mà anh ta đã vượt qua được là một chiến trường tàn bạo nhất.

Anh ta không phải đối thủ mà mình có thể coi thường.

Vậy nên Heine quyết định.

Cho dù về mặt ma thuật, Heine có lợi thế hơn, nhưng anh chắc chắn người này có thứ vũ khí bí mật nào đó. Trong trường hợp ấy, nó có thể là thứ giá trị hơn hẳn so với ma thuật của chính nó.

Trên hết, Lord El-Melloi II không phải là đối thủ duy nhất. Cả Seigen, người mà anh đã đấu một lần, và Flue, người có biệt hiệu Kẻ Diệt Sư Phụ, đều là những đối thủ nặng ký. Không kể đến cô "Công Chúa" nhà Edelfelt và Caesarmund ẩn dật, kẻ mà không có từ thích hợp nào khác để diễn tả ngoài từ "quái vật".

Dẫu vậy, Heine phải có được gia tài này bằng mọi giá.

…Rosalind.

Khi gương mặt đứa em gái hiện ra trong lòng, anh trở nên chú ý hơn đến "thứ" khắc trên chân mình.

Khắc Ấn Ma Thuật.

Vốn dĩ, Heine không hề có ý định thừa hưởng Khắc Ấn Ma Thuật của nhà Istari. Bản tính cởi mở vui vẻ của chàng thanh niên không có cách nào tương thích được với mặt đen tối đương nhiên phải có của ma thuật. Đến giữa chừng, anh đã dứt bỏ nó và đến gõ cửa Giáo Hội Thánh Đường. Kết quả là, nhà Istari mất đi người thừa kế liền để mắt đến đứa con thứ hai, Rosalind - và một bi kịch đã xảy ra.

Cơ thể Rosalind đã phản ứng một cách dị thường đối với Khắc Ấn Ma Thuật.

Một phản ứng bất thường.

Khắc Ấn Ma Thuật tương tự như một cơ quan nội tạng. Không tính đến một số ngoại lệ hiếm hoi, nó chỉ có thể thích ứng với người cùng huyết thống, và thậm chí sau đó, cơ thể sẽ đào thải nó theo bản năng. Vì lý do đó, Khắc Ấn Ma Thuật được cấy ghép một phần nhỏ vào các khoảng thời gian cố định tới khi nào chủ thể mới đến tuổi dậy thì. Điều này, cộng thêm tác dụng của thuốc chống đào thải và sự hỗ trợ của một Điều Hưởng Sư là nguyên tắc cơ bản đối với việc làm cho Khắc Ấn Ma Thuật thích ứng với cơ thể mới.

Nhưng cha của Heine hẳn là đã thiếu kiên nhẫn.

Hoặc có thể bởi vì từ đầu, khả năng thích ứng của Rosalind đối với Khắc Ấn Ma Thuật đã khác thường.

Chính xác thì trường hợp của em gái anh khác với sự đào thải. Có lẽ nên gọi nó là sự Thích Ứng Thái Quá. Rosalind đã được cấy ghép Khắc Ấn Ma Thuật chỉ vỏn vẹn trong vòng một năm, và ban đầu có vẻ như không hề gây ra sự đào thải nào cả. Nhưng thực tế, hầu hết sinh lực của em đang bị Khắc Ấn Ma Thuật tước đoạt. Nhận được tin báo từ gia đình, Heine liền rũ bỏ cả những cấm đoán của Giáo Hội Thánh Đường để quay về, nhưng đã quá muộn cho việc tiếp nhận cấy ghép trở lại.

Khắc Ấn Ma Thuật từng được cấy ghép cho Rosalind đã bị biến chất.

Dù cơ thể Rosalind đang hồi phục ở chừng mực nào đó, nhưng lần này đến lượt sinh lực của Heine bị Khắc Ấn Ma Thuật hấp thụ từng chút một. Có lẽ vì sinh lực của Heine mạnh mẽ hơn, nên Khắc Ấn Ma Thuật đã ăn sâu một cách phức tạp từ chân cho đến bên trong cơ thể anh, và không còn có thể trích xuất ra được nữa. Chuẩn đoán của một người bạn cũ là Chú Thuật Y Sư nói rằng, có lẽ anh chỉ còn sống không đến vài năm nữa.

…Cái chết không là gì cả.

Ngược lại, sau khi anh chết, chắc hẳn Khắc Ấn Ma Thuật sẽ có thể rút ra được. Một kết cục dang dở thật đúng là đáng tiếc, nhưng đối với Pháp Sư thì cũng đã có nhiều tiền lệ như thế rồi.

Thế nhưng, anh không muốn để cho Rosalind chứng kiến cảnh anh trai của em vì mình mà phải chết.

Chỉ riêng điều đó là anh tuyệt đối không thể chịu đựng nổi.

Một cái nhếch miệng cay đắng trên mặt Heine.

Một Điều Hưởng Sư bình thường sẽ chẳng thể điều trị hay trích xuất Khắc Ấn Ma Thuật này được. Chính vì thế mà bí pháp của vị "Phục Nguyên Sư" Geryon Ashborn - người đã cống hiến hết mình cho Khắc Ấn Ma Thuật, là tuyệt đối cần thiết đối với Heine Istari.

***

Dòng suy nghĩ của Heine bị ngắt.

Khi anh đến lớp ngoài thứ ba trong khu vực của lâu đài, Heine bất chợt cảm thấy cơ thể anh trở nên căng thẳng.

Ngay tiếp theo đó, con chó đang đi trên đất phía trước anh bị phá tan thành từng mảnh.

Tất nhiên, một Lễ Khí do nhà Istari thiết kế không dễ dàng bị tan tành như thế. Như thể dẫm đạp con mồi bị hạ, ngay chính bóng tối trông như đang rung chuyển.

Trong cái bóng của lâu đài, nơi ánh trăng không chiếu tới, một thứ đen thăm thẳm đang rình mò. Heine không thể thấy rõ hình dáng của nó. Bằng sự im ắng và tĩnh lặng của chính tử thần, thứ chắc chắn đang ở đó có diện mạo không thể nào thấy được.

Trong bóng tối hiện lên chỉ có một cặp mắt đỏ máu.

Heine nghe thấy một tiếng nói.

"-Hỏi những cái tên Thiên Sứ."

Gọi giọng nói của nó là tiếng khàn thì không chính xác. Đúng hơn là giống như tiếng gió. Đáp lại giọng nói ấy, Heine trừng mắt.

"Nhà ngươi hỏi ta sao?"

Heine lập tức kìm nén sự thích thú của mình. Thứ ở trước mặt không tỏ vẻ gì là muốn trả lời câu hỏi của anh. Thấy vậy, và sau khi cân nhắc cẩn thận, Heine quyết định nói ra từ được trao cho mình từ lúc bắt đầu.

"Ariel."

Nó là cái tên viết trên thư mời của anh. Tên Thiên Sứ dành cho Heine. Đáp lại, con thú chỉ lặp lại câu hỏi của nó.

"-Hỏi những cái tên Thiên Sứ."

Quả nhiên là không phải à…?

Tất nhiên, anh đã lường trước chuyện này. Nếu chỉ nói ra "Tên Thiên Sứ" của bản thân là mọi chuyện rõ ràng, thì việc tạo ra cái luật lệ khó khăn rắc rối thế này thật vô nghĩa. Cho dù anh không biết đáp án vào lúc này, chắc phải có một đáp án thỏa mãn câu hỏi của vị chủ nhân quá cố của lâu đài này. Trong trường hợp ấy, nó chắc có liên quan đến danh sách những cái tên mà anh phát hiện ra lúc trước, nhưng vẫn còn hơn 10 cái tên trong danh sách ấy.

Thế thì sao mình không thử vận may và nói đại ra một trong những cái tên ấy?

Nhưng mà như thế-

"-Nếu không trả lời được, thì sẽ bị xé xác."

Cái bóng bắt đầu vươn cao.

Một cảm giác kỳ lạ, giống như đang xem một vật hai chiều vươn ra thành ba chiều.

Anh không thể thấy rõ, nhưng anh ít ra có thể biết từ hình dáng mới của nó, nó đang đứng bằng bốn chi. Thấy được sự đáng sợ của những cái vuốt mà nó vươn ra, không còn nghi ngờ gì nữa về chuyện đã xảy đến với con chó kim loại lúc nãy. Ngay cả xương thịt của con người cũng chẳng khác gì là giấy đối với chúng.

Phản ứng lại, Heine thầm niệm một câu thần chú.

Nhưng-

"Lưu ChuyểnConvert."

Trước khi thần chú phát huy tác dụng, móng vuốt của con thú cắt xuyên qua anh.

Điều đó trông giống thế.

Thực tế, không hề có hiệu ứng nào lộ ra đối với bùa chú mà Heine vừa ếm. Nhưng dù vậy, bộ vuốt của con thú vung ra kèm theo một tiếng va đập vào vật rắn.

Nếu người ta nhìn vào nơi quần áo của Heine bị rách bươm, họ sẽ không thấy da người, mà lại là ánh sáng màu tím.

"Ma thuật mạnh ngang với những gì diễn ra trong cơ thể... Đó là nguyên lý đầu tiên mà ta được học trong nhà Istari đấy."

Giọng anh tràn đầy tự tin.

Đá Sống quý giá của nhà Istari được cất giữ sâu trong chính thân thể của Heine.

Lấp đầy chính thân thể mình bằng ma lực, anh có thể thay đổi cấu tạo của nó với một bùa chú duy nhất. Chỉ một trong các viên đá, theo tính toán của anh, chiếm khoảng bảy phần trăm thân thể anh. Qua việc kích hoạt chỉ một nửa số chúng, hiện tám mươi tư phần trăm cơ thể anh được bao phủ bởi áo giáp tím.

Theo thang độ cứng Mohs[6], nó là một bộ giáp cứng như hồng ngọc.

"Ngươi đã nói là xé xác nhỉ?"

Không bỏ qua danh dự của mình đến cùng, Heine nói.

Thậm chí gương mặt anh cũng biến đổi thành cùng chất liệu với phần còn lại của cơ thể. Bộ quần áo mà anh mặc trước đó vốn là vật dụng được tạo ra bởi giả kim thuật của Istari. Bộ đồ dễ dàng hòa lẫn với Đá Sống, giúp gia tăng độ bền. Hai ống tay áo đã biến thành giáp tay, và đôi giày biến thành giáp chân.

Heine giờ khoác lên mình diện mạo của một hiệp sĩ vô cùng kiên cường.

Lord El Melloi II Case Files Volume 1 Page 110

"Thật không may, xem chừng những cái móng vuốt đó chẳng thể cắm vào cơ thể ta được."

Tiếng nói trong trẻo và oai vệ vọng trong đêm tối bên ngoài lâu đài. Ánh trăng trên bề mặt áo giáp ánh lên như tinh thể pha lê.

"Vậy, liệu ngươi có đỡ nổi cây thương của ta không đây?"

Cùng lúc với bộ giáp, một cây thương xuất hiện trong tay anh. Cây thương cũng làm từ Đá Sống. Sử dụng giả kim thuật, nó được cường hóa tới cực điểm, đầu thương cứng hơn cả kim cương. Nếu kết hợp với ngựa cơ khí của nhà Istari, Heine tự tin rằng đòn tấn công của mình có thể xuyên qua cả vỏ giáp của xe tăng.

Cây thương và bộ giáp ấy, bản thân chúng là định mệnh của Heine.

Một trang bị thậm chí có thể đối kháng với sát thủ của Giáo Hội Thánh Đường.

Cùng lúc đó, khả năng nhận diện của Heine về con thú trước mặt anh từ từ trở nên tệ hơn. Có thể do tác dụng của một ma thuật nào đó, anh vẫn không thể nhận diện chi tiết hơn, nhưng anh giờ đã biết con thú có hình dáng giống với một con sói. Như sói, hoặc hổ sống ở hoang dã... Không, nó còn lớn hơn thế, Heine nghĩ vậy.

Một con thú…

Heine nhớ tới thông tin về chòm sao lúc trước.

"Ở nước Pháp vào thế kỷ 18, cũng có một truyền thuyết về Quái thú Gévaudan nhỉ. Và nếu liên hệ đến lâu đài này, thì có phải nó là thánh thú canh giữ thiên đàng Cherubim... mà số ít thì gọi là Cherub đó không?"

Theo thông tin đại chúng, vào ngày Một tháng Sáu năm 1764, tại một tỉnh của Pháp có tên là Gévaudan, một con thú bí ẩn đã xuất hiện. Sau khi giết hơn một trăm người, mà bản chất thật sự của nó vẫn chưa được khám phá, nó trở thành một huyền thoại về 『Ma SóiLoup-Garou』. Mặt khác, Cherubim là các Thiên Sứ hộ vệ ở rìa phía Đông của thiên đường, có bốn mặt và bốn cánh không nhất quán, một Thiên Sứ nửa người nửa thú. Hình dạng đơn lẻ gọi là Cherub.

Vì liên quan đến Lâu Đài Biệt Cư, anh không thể không cảm thấy có mối liên hệ nào đó ở đây.

"..."

Heine thong thả thu cây thương lại. Dồn sức nặng tới trước, anh dần dần thu hẹp khoảng cách giữa hai bên. Khi vào đến một khoảng cách không có cơ may tránh đòn, anh đâm thương tới bất chấp nó là thứ gì.

Ngay sau đó, con thú hống lên.

Như được thức tỉnh bởi tiếng hống của con thú, không gian chung quanh Heine bỗng nhiên biến đổi.

"?!!"

Nóng.

Gió thổi quanh Heine nóng hơn cả lửa. Nhiệt lượng này, thậm chí áo giáp Đá Sống của anh cũng không thể so bì.

Không phải ma thuật, mà là đặc tính của con ma thú này sao!?

Lập tức, tay Heine bắt đầu cử động. Lấy một cái lọ từ bên trong ống tay đã biến thành giáp, và giải phóng thứ bên trong. Chúng lập tức bốc hơi, kết hợp với Od của chính Heine, và đem đến một kết quả hoàn toàn phi khoa học.

Với một âm thanh nhỏ, ngọn lửa trắng bắt đầu cuộn lại. Tuy nó trông như lửa mà Heine phóng ra trước mặt mình sẽ càng làm tăng thêm nhiệt thiêu đốt, nhưng điều xảy ra lại là ngược lại. Trong phút chốc, ngọn lửa biến thành một cột băng.

"Ngươi nghĩ giả kim thuật chỉ điều khiển mỗi khoáng thạch thôi à?"

Phía sau giáp mũ, Heine nở một nụ cười thỏa mãn.

"Dù là thể lỏng, thể khí hay thậm chí là những khái niệm không tồn tại trong thế giới này cũng đều thuộc phạm vi của giả kim thuật hết. Không, cái đó là đối với ta, và đây là lĩnh vực tâm đắc của ta đó."

Có một khái niệm về thuộc tính.

Trước đó, Lord El-Melloi II cũng đã từng nói đến, nhưng thuộc tính nhị trùng Lửa và Nước của Heine Istari thì hiếm có ngay cả trong thế giới pháp sư. Lửa với nước vẫn thường được cho là tương khắc nhau, nhưng cũng không phải là không thể cùng tồn tại. Dĩ nhiên thuộc tính nhị trùng là một tài năng hi hữu, nhưng nếu nghĩ đến nước đun sôi chẳng hạn thì hẳn là có thể hiểu được.

Có thể nói rằng, trái ngược với xăng, thứ chất lỏng hiện giờ đang liên hồi lấy đi nhiệt trong không khí thông qua hiện tượng lửa.

Tay Heine cử động, khiến cây thương của anh lóe sáng.

Lưỡi thương đâm vào bóng tối hóa thành bảy lưỡi. Đá Sống dung hợp không chỉ đơn giản là một áo giáp tùy biến. Nó cũng được dùng để tăng cường khả năng vật lý của anh, giúp anh có được năng lực vượt xa người thường.

Con thú phản ứng.

Sử dụng bộ vuốt, nó gạt được cây thương đầu tiên, nhưng bị trúng hai cây tiếp theo. Nhưng không hề nao núng, con thú nhảy lùi.

Nó bỏ chạy à?!

Biến bộ giáp sang dạng tối ưu để truy đuổi, Heine rượt theo.

Đúng như hình dạng của con thú, tốc độ của nó vượt trên mức Heine có thể đạt được. Khi chạy, nó bỗng dừng lại, hướng vào một trong những hành lang của lâu đài thông ra bên ngoài.

Tiếng chát chúa của kim loại gõ trên sàn đá vọng lại. Do hiện giờ là ban đêm, ánh sáng bên trong lâu đài đều đã tắt, và vì ánh trăng không chiếu vào trong được nên bên trong lâu đài tối hơn bên ngoài. Heine không còn lựa chọn nào ngoài đuổi theo con thú chỉ với dấu vết mà nó để lại trong hành lang.

"..."

Vì lý do gì đó, Heine không thể gạt bỏ sự khó chịu bắt đầu dâng lên trong ngực mình. Trước khi não của anh kịp hiểu ra điều gì, máu dồn dập trong mạch và da sởn lên cho thấy chúng hiểu được sự nghiêm trọng của vấn đề.

Không thể nào…!

Khi Heine tiếp tục cuộc săn đuổi, anh nhận ra một điều.

"Giả sử như", anh nghĩ.

Nghĩ về thông điệp xuất hiện trên thư mời trước lúc anh ra khỏi rừng.

Giả sử như, anh không phải người đầu tiên nhận được thông điệp này thì sao?

Giả sử như, anh là người thứ hai phát hiện ra nó trong hôm nay thì sao?

Giả sử như, trước đó đã có một người khác bị con thú đó hỏi thì sao?

-Đáp án của anh đến không lâu sau đó.

Ánh trăng tỏ trên nền trời.

Anh đang đứng trong khán phòng của lâu đài. Nơi đây vừa hay đối diện với đại sảnh mà mọi người đã tập trung vào lần gặp mặt đầu tiên. Trong lâu đài mang phong cách cổ xưa này, nơi không hề dành chỗ cho việc phô bày sự xa hoa lãng phí, đây là nơi mang lại sự im lặng trang nghiêm. Một chiếc đàn dương cầm và đàn hạc gần đó cho thấy âm nhạc hẳn đã từng đầy ắp căn phòng vào một thời điểm nào đó trong quá khứ.

Sự hiện diện của con thú biến mất.

"..."

Đôi mắt Heine nhìn chằm chằm vào trung tâm khán phòng. Lý do mà khán phòng này được xây dựng đương nhiên là để chứa bức tượng đứng giữa phòng.

Án giữa trung tâm khán phòng là một bức tượng Thiên Sứ khổng lồ, một tay cầm gươm, tay kia cầm một cán cân. Không nghi ngờ gì là theo cảm hứng về bức tượng Thiên Sứ Michael tại Mont Saint-Michel[7], nó là hình tượng mà Heine cực kỳ thân quen. Chiếc cân dùng để đong đếm tội lỗi của người chết, và thanh gươm dùng để xua đuổi 『RắnSatan』. Dĩ nhiên Tổng Lãnh Thiên Sứ Michael là một trong số - nếu không nói là nổi tiếng nhất trong tất cả các Thiên Sứ.

"A!!"

Hein bỗng nhận ra.

Mùi nồng lan trong không khí không cho anh dời mắt đi chỗ khác.

Có phải đây là sự báng bổ? Hoặc có lẽ, khi mà đây là lãnh địa của pháp sư, nó được xem là một sự ban phúc?

Như thể tuyên bố chiến thắng của niềm tin, Thiên Sứ chĩa thanh gươm thánh lên trời.

Và thanh gươm thánh ấy đang đâm xuyên qua-

***

Sư phụ tôi và tôi thức dậy khi trời chưa sáng. Ngay cả trong trạng thái ngái ngủ, ngài hình như hiểu ra tính nghiêm trọng của tình hình, vì ngài nhanh chóng chỉnh y phục bị rối và ra ngoài.

Cùng lúc bước vào khán phòng, chúng tôi cảm thấy một sự hiện diện.

Như thể ngài hết sức kìm chế cảm xúc, một giọng nói nhỏ lướt qua kẽ môi ngài.

"Hishiri...Adashino...!"

Lâu Đài Biệt Cư được xây dựng có phần giống hình chữ C. Một đầu là tiền sảnh, nơi mọi người đã tập trung trong lần gặp mặt đầu tiên. Đầu kia là khán phòng này. Ngoài các bích họa và tranh treo tường thì đàn dương cầm, đàn hạc, các cây cột và kể cả các vật dụng nhỏ ở đây đều được thiết kế theo chủ đề Thiên Sứ giống như phần còn lại của lâu đài, một cách thể hiện mạnh mẽ sự lập dị của người chủ quá cố.

Nhưng riêng lần này, tôi không để tâm đến chuyện đó.

Bởi vì cô ta ở đây, giữa căn phòng này.

Kimono ống tay dài của cô quá đẹp, trông như được làm chỉ cho khoảnh khắc này. Trang phục phương Đông đem lại vẻ bí ẩn nhiều hơn trước khi nó ngả lên bức tượng Thiên Sứ. Thậm chí máu đang chảy dọc theo thanh gươm của Thiên Sứ không ảnh hưởng đến vẻ đẹp ấy. Phải nói rằng, dù giờ máu đang khô lại xung quanh cô, vẻ đẹp của người phụ nữ bị xiên trông như thứ duy nhất chưa bị thay đổi.

"...!"

Tôi bất giác che miệng. Bởi vì ngoài mùi máu quá nồng nặc đến nghẹt thở, tôi còn nhận thấy một điều khác.

Trên gương mặt xinh đẹp của cô ta, mang vẻ nhợt nhạt, mềm mại, khác lạ, cái đầu ngửa ra sau, cả hai con mắt của cô đã bị móc ra.

"Đây là…!"

Sư phụ tôi ngần ngừ sau một vài từ. Một lúc sau, ngài lấy dũng khí và nói tiếp.

"Heine-san, anh có thể hạ cô ta xuống được chứ?"

Heine liếc nhìn quanh căn phòng. Trước khi anh nhận ra, tất cả các pháp sư được mời đến lâu đài đã tề tựu.

Seigen và Flue, Luvia và tùy tùng của cô, cũng như Orlocke và cậu bé đẩy xe lăn cho ông đều hiện diện. Như dự đoán, không ai có thể làm ngơ một sự kiện đến mức độ này. Như thể khi làm một pháp sư, họ đều quen với tình huống như thế, bất chấp không khí căng thẳng trong phòng, không ai trong số những người ở đây mất bình tĩnh. Ngoại lệ duy nhất có lẽ là Rosalind vô cùng bất ổn, nhưng ngay cả em ấy hình như cũng trụ được khi mà em có anh trai mình trợ giúp.

"Tôi hiểu rồi."

Thấy không ai phản đối, Heine giơ một về phía bức tượng. Từ tay Heine, một sợi kim loại mỏng như sợi tóc vươn ra, lướt qua thanh gươm của bức tượng, và nhẹ nhàng hạ thân thể Hishiri vào vòng tay anh. Không quan tâm đến máu thấm lên áo mình, Heine nhẹ nhàng đặt cô xuống sàn nhà. Sư phụ tôi tiến lại và cúi xuống cạnh bên cô.

"Xin thất lễ."

Nói xong, ngài đưa tay chạm vào cô. Đưa ống tay áo kimono sang bên, ngài nhanh chóng kiểm tra thân thể cô. Như một bác sĩ lành nghề, ngài xem xét các vết thương bên ngoài với một sự lạnh lùng.

"Heine có nói rằng nó là một loại quái thú. Chắc hẳn đôi mắt của cô ấy bị moi ra bởi thứ tương tự như một cái móng vuốt lớn. Trên hết là cô có một vết cắt lớn ở giữa lưng. Chắc hẳn đó là nơi có Khắc Ấn Ma Thuật. Tôi cho rằng một pháp sư cao cường không thể chết nếu không xảy ra việc như thế."

Tất nhiên mọi Khắc Ấn Ma Thuật đều độc nhất, nhưng chúng vẫn có một chức năng chung. Dù Khắc Ấn Ma Thuật của gia tộc lâu đời phát triển thành thứ tương tự như lời nguyền, chính Khắc Ấn giữ cho họ sống, nên mọi thứ pháp sư có đều rót vào nó. Với loại người xa cách với nhân loại như pháp sư, không có gì đảm bảo sẽ phát hiện được từ cái chết của họ. Có thể nói, mỗi pháp sư trong gia tộc đều chỉ hơn một chút so với những vật dùng để chứa Khắc Ấn Ma Thuật.

Một phong thư dính máu nhẹ nhàng rơi khỏi ống tay áo kimono của cô. Sư phụ tôi nhặt cái phong thư đem lại một ấn tượng giống với thứ được trao cho chúng tôi, và lập tức xem xét nội dung của nó.

"Ồ? Xem ra cả cô ta cũng có một cái 'Tên Thiên Sứ'. Đây là…"

Nói đến đó, ngài ngừng lại.

Hachasiah.

Nhìn vào một từ được in trên lá thư ấy, gương mặt của sư phụ tôi nhanh chóng trở nên cứng đơ.

"Sư phụ?"

Đặt một ngón tay dính máu lên cằm mình, sư phụ tôi im lặng ngẫm nghĩ. Cuối cùng, ngài nói tiếp với giọng run rẩy.

"…Có lẽ tôi đã hiểu lầm."

"Hiểu lầm?"

Lờ đi câu nói của tôi, ngài không trả lời ngay. Bằng những ngón tay run rẩy, ngài lại lần nữa khám nghiệm thân thể bị sát hại tàn nhẫn của Hishiri. Ngài xăm soi mái tóc của cô, giờ đã bết máu khô, và kiểm tra lại vùng mắt bị móc ra của cô.

"…'Tên Thiên Sứ' không phải là gợi ý về di sản thừa kế rồi."

Nghe thế, tất cả các pháp sư trong phòng đều quay sang nhìn ngài. Người lên tiếng đầu tiên là Orlocke ngồi xe lăn.

"…Này Lord. Vậy ngươi nói xem, nó là cái gì nào?"

"Đó chẳng phải là bí ẩn gì cả."

Gốc của từ "bí ẩn" là từ tiếng Hy Lạp mang nghĩa là "đóng lại". "Đóng lại", "che giấu", "tự hoàn thiện", tóm lại, một "bí ẩn" mang ý nghĩ đặc biệt vì nó là một bí ẩn.

Bản thân các bí mật như là bánh mì và bơ đối với ma thuật. Một số ít có thể đi bất kỳ con đường ma thuật riêng rẽ, phần lớn có thể được hoàn thiện. Trước khi đến Lâu Đài Biệt Cư, sư phụ tôi đã nói rằng một khái niệm càng nổi tiếng thì càng bền vững, nhưng điều này thì ngược lại - một chân lý mà những người tự gọi mình là pháp sư đều biết.

Cho nên, khi nghe thông điệp từ chủ nhân quá cố của lâu đài, họ đều nghĩ đến mặt giá trị của nó. Trong thế giới của họ, chúng đã trở thành một loại sở thích, đồng thời chấp nhận nó như một nghi thức linh thiêng nảy sinh ra sự vô giá của gia tài ấy.

Nhưng mà.

Giả sử nó vốn dĩ chẳng phải là bí ẩn thì sao?

"Tôi từng nói 72 Thiên Sứ trong Schemhamphoras có thể hoán chuyển thành 12 Cung Hoàng Đạo, nhưng chúng còn tương đương với cơ thể con người nữa. Đại Vũ Trụ [Macrocosm] và Tiểu Vũ Trụ [Microcosm] luôn luôn đối xứng nhau, chắc hẳn tôi không cần giải thích về chuyện đó đâu nhỉ."

Khi ngài nói, các pháp sư khác trong phòng tỏ vẻ căng thẳng.

Họ đã hiểu được điều mà sư phụ tôi muốn nói.

"Hachasiah là Thiên Sứ chi phối cung Bạch Dương [Aries]. Đại khái, cung Bạch Dương bảo hộ phần đầu của cơ thể người…"

Nói đến đó, sư phụ tôi ngừng một chút. Ngài nói nhỏ lại, như để bớt rầy rà…

"…Đặc biệt, nếu giới hạn với Hachasiah, thì nó mang ý nghĩa là nhãn cầu."

Theo phản xạ, tôi thốt lên một tiếng.

Lời công bố mà Hishiri đưa ra ở tiền sảnh gợi lại trong đầu tôi.

'Những người được hỏi và không thể trả lời, thì sẽ bị tước bỏ Thiên Sứ bằng mọi cách.'

Có phải đây là ý nghĩa của việc bị tước bỏ Thiên Sứ?

Nó không phải là câu đố hay phép ẩn dụ. Nó là một thông điệp đơn giản và trực tiếp gửi đến những pháp sư tìm kiếm gia sản của ông ta. "Nếu không thể trả lời được thì hiển nhiên ngươi sẽ bị tước bỏ bộ phận đó, nên hãy chuẩn bị tinh thần đi." Ý nghĩa của nó chỉ có thế ư?

"Nói cách khác, 'Tên Thiên Sứ' là thư báo trước về cách chúng ta sẽ bị giết, giống như thế này đây."

Tiếng nói của ngài vang vọng khắp phòng. Nó cứ như là một bùa chú. Tôi cảm thấy ảo ảnh tất cả các Thiên Sứ bao quanh căn phòng lớn này bỗng biến đổi từ sinh thể chính nghĩa sang những sát thủ chuyên nghiệp muốn giết chúng tôi.

Nhưng, sau khi nói thế, sư phụ tôi gục đầu như hổ thẹn.

"Sư phụ?"

"…Tồi tệ rồi đây." Ngài thì thầm.

Dường như tiếng nói của tôi không chạm được đến tai ngài. Đó là tình trạng khi ngài chìm đắm trong suy nghĩ.

"Sư phụ?"

Sau khi gọi lần nữa, rút cuộc ngài cũng quay sang tôi.

Nỗi buồn trên mặt ngài thậm chí còn hơn cả lúc vừa tìm ra ý nghĩa thật sự của những cái tên Thiên Sứ.

"…Đây chính là điều tồi tệ nhất."

"Điều gì cơ ạ?"

"Là cái kết quả này ấy. Dù hung thủ là ai thì việc sắp xếp một mưu đồ thế này hẳn là phải có mục đích."

Và rồi, ngài thêm vào.

"Vì trong số những người đã quy tụ ở Lâu Đài Biệt Cư thì chỉ có duy nhất Adashino Hishiri là biết về bí pháp của Ashborn, và cô ta lại là người không cần có được nó."

Ngài liếc ra sau lưng.

Chỉ bằng cái liếc mắt, hàm ý của ngài trở nên rõ ràng. Ngoài Rosalind vẫn bám lấy Heine, không một ai trong số các pháp sư trong phòng này tỏ vẻ sợ hãi. Đúng hơn là, không khí trở nên… phấn khích.

Họ cuối cùng cũng có được bằng chứng cho thấy quả thật có điều gì đó được che giấu ở đây. Để đạt được nó, không cần phải ngần ngại với phương pháp giết đối thủ cạnh tranh. Và vì đã thấy chết chóc nên cũng chẳng có lý do gì để lảng tránh nó.

"Ha ha! Thế tức là con thú đã cẩn thận xiên cô ta lên đó sau khi lột bỏ Khắc Ấn Ma Thuật và móc mắt chắc? Quá cẩn thận mà, đúng là chuyện nực cười đấy."

"Ông Flueger. Ông đang bảo là tôi nói dối đấy à?"

"Không không, tôi tin vào lời Heine Nii-san nói."

"Vậy thì ý ngươi bảo là vong hồn của Geryon Ashborn bạn ta đang vảng vất đâu đó trong lâu đài này ấy hả?"

"Ai chà. Lão già Caesarmund định nói rằng hung thủ nằm trong số chúng ta đây mà."

Các tiếng nói của pháp sư vang lên.

Tiếng nói vang vọng khắp căn phòng, đầy sự kiêu ngạo, thù địch và hiếu kỳ, chúng hòa vào nhau cứ như thể tiếng cười rì rầm của một bầy yêu ma Wild Hunt[8] trong đêm giông tố vậy.

Phải, đúng vậy.

Như sư phụ tôi đã nói, đây không còn có thể là trò chơi săn tìm kho báu đơn thuần nữa rồi.

Nhưng ấn tượng của tôi hơi khác một chút so với của sư phụ tôi. Vụ việc này không có nghĩ là không còn bí ẩn cần giải đáp. Đúng hơn thì, bất kể nó có là câu đố về chuyện thừa kế hay bí ẩn về hung thủ, vẫn còn đó một bí ẩn tại tâm điểm của vụ án. Thực tế, cảm giác về sự hiện hữu của nó mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Điều mà chúng tôi lầm lẫn là bản chất của câu đố.

Đó chẳng phải là một điều bí ẩn để cho ai đó giải đáp.

Mà là một mạch dẫn để mời gọi các pháp sư, khơi gợi đến cái chết và tai họa, hệt như mật ngọt vậy. Có được điều bí ẩn làm động lực thúc đẩy, câu chuyện liền khôi phục lại hình thái vốn dĩ ban đầu, và bức màn đã mở ra.

Sự mở màn của tấm thảm kịch Grand Guignol.[9]


Chú ThíchEdit

  1. Yuzen là phương pháp thủ công để nhuộm và vẽ hoa văn cho áo kimono.
  2. Derringer là loại súng ngắn bỏ túi có từ Thế kỷ 19.
  3. Bát Nhã Thang là tiếng lóng mà các tăng sĩ dùng để gọi rượu.
  4. Kabbalah trong tiếng Do Thái có nghĩa là "truyền thống". Theo Fate/Apocrypha, cha đẻ của khái niệm Kabbalah là Caster "Đen" aka Solomon ibn Gabirol.
  5. Sách Xuất Hành (Book of Exodus) là quyển 2 của Kinh Cựu Ước, nói về hành trình rời Ai Cập để đến miền đất hứa của dân Do Thái do Moses dẫn đầu.
  6. Thang độ cứng Mohs thể hiện tính chống trầy xước của khoáng vật. Hồng ngọc ở mức 9/10, độ cứng bằng khoảng 1/4 Kim Cương.
  7. Mont Saint-Michel: Núi Thánh Michael, một địa danh của Pháp được công nhận là Di sản Thế giới.
  8. The Wild Hunt: là truyện Thần Thoại Châu Âu kể về cuộc đi săn của nhiều chủng tộc và nhân vật thần thoại.
  9. Grand Guignol (1897-1962): sân khấu nổi tiếng của Pháp, chuyên diễn các vở kịch kinh dị.