FANDOM


Lord El Melloi II Case Files Volume 1 Page 009

Vào một buổi sáng sớm mùa Thu, sư phụ tôi gọi tôi đến.

Đây là lần đầu tiên ngài cho gọi kể từ khi tôi đặt chân đến Luân Đôn vào hai tháng trước, nên tôi có hơi bất ngờ. Sau khi thông báo với người quản lý ký túc xá Krishna, tôi quay lưng rời đi. Tôi tưởng một người hăng hái quá mức trong việc giúp đỡ người khác như anh ta sẽ đi cùng, nhưng rút cuộc, anh ta lại từ chối cùng một lời xin lỗi.

Trên đường đi, tôi đột nhiên thấy choáng ngợp.

Rất đông người qua lại ngoài vỉa hè.

Hoặc có lẽ do mùi dầu mỡ của món cá và khoai tây chiên, hoặc cũng có lẽ là do khí thải của loại xe buýt hai tầng nổi tiếng.

Những người đàn ông, ra đường trong bộ áo khoác trench-coat,

Những người phụ nữ, quấn quanh người bằng khăn quàng vai và khăn quàng cổ,

Những đứa trẻ, bàn tán ồn ào khi lên xe buýt…

Thật là quá đông người.

Dân số Luân Đôn vào khoảng tám triệu người, nhưng tôi vốn gặp rắc rối trong việc hiểu về ý nghĩa của những thứ có con số trên một trăm. Việc cố gắng hiểu về số lượng người nhiều không thể tưởng tượng nổi này khiến tôi nản lòng. Nếu phải so sánh, tôi sẽ bảo rằng nó khiến tôi liên tưởng tới nghĩa trang.

Người chết xếp từ hàng này đến hàng kia, tích tụ từ bao đời… Để cho dễ, tôi đưa ra một hình ảnh so sánh nặng nề.

…Không.

Tôi nghĩ lại.

Bản thân thành phố này giống như một nghĩa trang, phải không nhỉ?

Không phải vì nó khiến tôi nghĩ đến cái chết. Nhưng với nguyên cả một đám đông lớn tụ lại một nơi và dành đại đa số thời gian của họ trong những tòa nhà màu nâu và xám, như thể họ đều hướng về đích đến cuối cùng của mình. Theo như những gì đã học về khái niệm Địa Ngục và Luyện Ngục[1], không hiểu sao nó lại khiến tôi liên tưởng đến thần Hades[2] trong thần thoại.

-À, dĩ nhiên rồi.

Người ta gọi đấy là cảm tính của "đứa nhà quê".

Ở bất cứ nơi nào có đông người tụ tập thì đây cũng là khung cảnh hiển nhiên mà con người ta mong đợi. Dù hiểu về lý thuyết nhưng tôi vẫn cảm thấy hơi buồn, rằng cả chục năm sống ở miền quê vẫn còn trói buộc lối suy nghĩ của tôi.

Tâm trí trong quá khứ và hiện tại không thể phân định rạch ròi, nên dẫu bây giờ thả mình trong dòng suy tưởng thì tôi cũng sẽ lo nghĩ về chuồng gà, hoặc ai sẽ quét dọn nhà thờ, rồi thì tôi sẽ trở nên bồn chồn. Nếu không phải vì sư phụ gọi đến thì chắc tôi sẽ dành phần thời gian còn lại của mình ở nơi đó.

Nhưng suy xét xem đó có phải là hạnh phúc hay không thì lại là một chủ đề khác.

Mặc dù đang ngẫm nghĩ những điều trên, tôi vẫn bước đi. Vừa nhìn xuống dòng sông Thames, tôi vừa bước lên Cầu London.

Sang bên phía Nam của cây cầu phiên bản hiện đại được khánh thành bởi Nữ Hoàng Elizabeth II, không khí của thành phố thay đổi đột ngột. Số người vãn cảnh có vẻ giảm xuống, và ở chỗ này, mọi người đều chạy đan xen nhau, tạo nên một cảm giác đặc trưng của khu thương xá - nói như thế nghe có vẻ hay ho, nhưng về tổng thể thì nên nói là nó giống như trật tự công cộng bắt đầu rối loạn. Giống như giai thoại nổi tiếng rằng chợ Bermondsey là nơi cho phép bọn trộm cắp buôn bán đồ vậy.[3]

Nhưng đó là chuyện quá khứ.

Dưới những mái vòm bằng gạch bụi bặm, tôi bước sang đường Druid, rồi sang con đường ngoặt gần đó, sự hiện diện của những người khác đột ngột biến mất. Một kết giới, sư phụ tôi gọi nó như thế. Theo như lời của sư phụ, không cần phải dùng đến ma thuật để dựng nên một kết giới. Một nơi tự bản thân nó xua đuổi người thường mà không cần đến ngoại lực, sức mạnh huyền bí, là phương thức hoạt động tốt nhất của kết giới, hoặc đại loại thế. Ừ thì định nghĩa này dù sao cũng xuất phát từ Phật Giáo, và Khái Niệm xua đuổi người thường là điều cơ bản hơn nhiều so với ma thuật, một chức năng nền tảng của não bộ, và nhiều điều liên quan khác nữa cũng được đưa ra bàn luận, nhưng tôi không nhớ được nhiều hơn thế.

Nhưng có lẽ nó là điều thật sự quan trọng cần phải ghi nhớ.

Rất tiếc, tôi không phải là một người sáng dạ.

Đây là một điều nữa mà tôi đã phải đau đớn nhận ra kể từ khi đến Luân Đôn cách đây hai tháng. Nhờ có sự tiến cử của sư phụ tôi mà tôi mới được nhập học tại Tháp Đồng Hồ, nhưng tôi không thể hiểu bất cứ điều gì trong hơn phân nửa số lớp học ở đây. Ở tại trung tâm của nơi dạy và học này, nếu người nào có ý muốn tìm tôi thì chắc chắn rằng tôi sẽ mang một vẻ mặt ngu ngơ như thể vừa bị cả một núi vàng đè lên người.

Chuyện này có hơi thất vọng, nhưng nếu phải đưa thêm một lời nhận xét nữa thì tôi sẽ nói rằng sư phụ tôi vốn cũng không tài giỏi như vậy. Nếu cố gắng dựng một kết giới bằng chính khả năng của mình, ngài sẽ chỉ đủ sức dựng được cái yếu nhất trong những loại thấp kém nhất, cho nên có lẽ ngài đặc biệt chọn nơi này để không phải làm việc đó. Hoặc ít nhất là tôi nghĩ thầm như thế.

Khi nghĩ đến đây, tòa nhà màu nâu đỏ nhạt, nơi có căn hộ của sư phụ tôi, đã xuất hiện trong tầm mắt. Vào buổi sáng mùa Thu ấy, nó vẫn đứng ở đấy, trông vẫn bất hạnh như bao lần.

***

Đa phần những nơi sống như thế này được gọi là Flat ở nước Anh. Dù sao thì tôi vẫn gọi là căn hộ chứ không bắt chước cách nói của sư phụ tôi, nhưng tôi không biết tại sao ngài lại gọi như thế. Dù sao thì chung cư chỗ sư phụ tôi vẫn dễ sợ như mọi khi. Cây thường xuân bao quanh tòa nhà, và các hạt nảy mầm giữa kẽ nứt đem đến một vẻ cuốn hút dễ chịu, nhưng những bức tường gạch nâu đỏ nhạt và ống khói nứt nẻ quá nhiều, thậm chí một cơn gió cũng làm các mảnh vụn rơi xuống lả tả. Có rất nhiều ngôi nhà cổ ở Châu Âu, nhưng nơi này thuộc một cấp độ khác. Ước tính sơ sơ cũng dễ thấy nó phải hơn một trăm tuổi. Về điểm này, dù người ta có bảo nó được xây vào lúc diễn ra Cuộc Cách Mạng Công Nghiệp thì nghe cũng đáng tin.

Bởi thế, nó trông yếu đến nỗi chỉ cần đẩy một bên của tòa nhà nghiêng một chút là nó sẽ bắt đầu một chuỗi phản ứng dây chuyền khiến cho toàn bộ sập xuống. Không kiềm chế ý nghĩ này, tôi thầm cầu khấn, mong cho không xảy ra việc như thế, trong khi thận trọng đẩy cửa chính mở ra.

Bước vào trong tiền sảnh vô cùng rộng rãi, vai tôi rụt vào theo bản năng trước âm thanh vang đến từ người nào đó đang hét lên giận dữ.

"Đừng có giỡn mặt tôi!"

Tiếng nói vang qua sảnh.

Phần giữa tiền sảnh bị án ngữ bởi một cầu thang xoắn lớn. Trở lên ba tầng thì có thể thấy các cánh cửa dẫn đến từng căn hộ khác nhau. Chúng đủ gần để những người chủ của chúng dễ dàng nghe được tiếng kêu giận dữ ấy, nhưng không ai trong số họ có vẻ sẽ phản ứng lại. Không có vẻ gì là họ có lớp cách âm trong phòng mình, thế có nghĩa là họ đã quen với tiếng ồn này chăng? Một bên sảnh là một quầy nhỏ dành cho người quản lý tòa nhà, nhưng qua ô cửa sổ, tôi chỉ thấy mỗi một bà già, lắc lư trên chiếc ghế bập bênh.

"...Mieeo."

Con mèo ngồi trên lòng bà già kêu lên một tiếng nhỏ trước khi một lần nữa khép mắt lại và quay về với giấc ngủ. Thấy vậy, tôi tự dưng muốn làm điều tương tự.

Nhưng lờ đi lời triệu gọi của sư phụ mình là điều không thể chấp nhận được, nên thay vào đó, tôi đi lên tầng hai.

Trong lúc đi trên cầu thang, tiếng nói càng lúc càng rõ hơn.

"Cô cũng biết rõ như tôi rằng lâu đài đó phiền phức ra sao! Lại còn chúc thư nữa chứ! Tại sao cô lại nhận lấy một công việc như vậy?!"

Tiếng nói bực tức nghe như xét nét và thiếu tế nhị. Mong muốn trốn tránh trong tôi càng lúc càng tăng. Nghĩ đến những lời phàn nàn của sư phụ tôi, điều tôi muốn làm là quay lại và chạy biến đi.

Nhưng mà.

"Đây là kết quả sau khi em đã cân nhắc nghiêm túc rồi đấy chứ." Người nói chuyện với ngài đáp lại. Đó là giọng của một phụ nữ trẻ. Tuy giọng nói nhẹ nhàng nhưng rõ ràng là có ác ý. Cô ta hình như không dấu được sự thật rằng mình đang lấy làm khoái trá với việc này, hoặc có thể cô ta vốn không hề có ý định che giấu điều đó.

"Nếu cô đã nghiêm túc cân nhắc thì làm thế nào mà lại có kết luận này?"

"Cố nhiên, việc này là thuận theo ý nguyện của ông anh vĩ đại của em."

"Ý nguyện của tôi?"

Đáp lại câu nói nghe-có-vẻ-đáng-ngờ của sư phụ tôi, tôi có thể cảm nhận thấy một nụ cười tinh quái.

Nếu không có cánh cửa che khuất thì chắc chắn tôi đã thấy được nụ cười đắc thắng ấy.

"Giả dụ. Nếu anh giải quyết được vụ này êm đẹp, thì nếu như anh đột nhiên muốn nói gì đó kiểu như 'Tôi muốn đi đến Viễn Đông.", thì anh có thể vẫn còn kịp thời gian, phải thế không? Tháp Đồng Hồ vẫn chưa quyết định ai sẽ tham gia 'Cuộc Chiến Gì Đó', phải không? Nếu anh muốn làm điều gì để lọt vào cuộc chạy đua ấy thì anh không còn nhiều thời gian nữa đâu."

Như thể gặp phải một lời biện minh xuất sắc, giọng ngài chuyển sang rền rĩ.

Cùng với tiếng nghiến răng, câu gì đó nghe như lời chửi rủa được buông ra.

"Cô là ác quỷ đấy à?"

"Là đứa em gái đáng yêu dễ mến của anh đấy chứ."

Cứ như tôi được nghe thấy tiếng nói của một người kể chuyện chuyên nghiệp.

Tôi đoán có một cái gật đầu, và như để xoa dịu đối phương, cô ta hạ giọng nói.

"Nào nào, ông anh đáng kính của em. Em cũng đã nghĩ cho cảm xúc của anh nữa mà."

"Vậy thì nó ra sao?"

"Tự nhiên, em ngẫm lại thực tế là anh chọn sống ở đây, trong căn hộ của riêng mình thay vì dinh thự El-Melloi. Quá rõ ràng là anh ở đây thì phải trả tiền thuê trọ cho tòa nhà thuộc sở hữu của chính gia tộc mình; một chuyện vô lý ngay trong chính bản thân điều đó."

"Trái lại ấy chứ. Tiền thuê trọ của tôi biến thành tiền trả nợ của tôi đối với nhà El-Melloi. Chẳng có phương pháp nào hữu hiệu hơn thế."

Trước lời đáp nhanh chóng của ngài, cô ta buông một tiếng cười giễu cợt.

"Ha. Ý nghĩ hay đấy, nhưng nếu anh không làm gì ngoài việc bốc một nắm cát ra khỏi sa mạc vào mỗi tháng, thì chẳng phải khi nói anh đang ra sức vét bỏ sa mạc là có chút quá cường điệu ư?"

"Đấy chỉ là vấn đề cảm xúc. Dù sao thì tôi không có ý định dựa dẫm vào của cải của nhà El-Melloi."

"Vì không hề ham muốn của cải của nhà El-Melloi, chẳng phải việc ra sức trả nợ cho chỗ của cải nói trên là có phần giống như đầu tư ngược ư?"

Có gì đó trong lời giễu cợt đến từ sau cánh cửa đóng mang vẻ vui sướng. Nó gợi cho tôi liên tưởng đến một người chủ độc ác đang khoái trá xem con mèo nuôi của mình dựng lông và trừng mắt. Có vẻ như không thể phủ nhận rằng yếu tố xác định về tôn ti trong mối quan hệ giữa hai người họ không liên quan đến tuổi tác mà là điều đã có từ khi họ sinh ra.

Quả nhiên, sau một hồi rền rĩ, cuộc nói chuyện tiếp tục.

"Tôi muốn ra điều kiện."

"Ô?"

"Đầu tiên, tôi sẽ tự mình đảm nhiệm toàn bộ vụ án. Tiểu thư của tôi à, tôi sẽ không cho phép cô nhúng tay vào."

Bằng một quyết định giống như chẳng thể cầu mong gì hơn thế, ngài bướng bỉnh tuyên bố.

"Việc đó có vấn đề gì ư?"

Người kia cười nhạt. Như thể biết rằng chủ nhà không tiếp đón lâu hơn nữa, tôi nhận thấy cô ta đứng lên.

"Được rồi, được rồi. Vậy thì, ông anh yêu quý ạ, em sẽ giao lại mọi việc cho anh."

"…Ồ."

Tôi nhanh chóng lùi khỏi cánh cửa, để tránh lộ ra bộ dạng như đang nghe lén. Thật ra tôi muốn tìm chỗ trốn, nhưng người đang tiến đến từ phía bên kia cánh cửa không di chuyển nhàn nhã để cho tôi làm thế.

Vài giây sau, cánh cửa mở ra, một mái tóc vàng óng xuất hiện. Ngay sau đó, làn da trắng xám làm người ta liên tưởng đến búp bê sứ, và cả trang phục lẫn phong thái cũng tương đồng với hình ảnh so sánh ấy. Nhưng điều ấn tượng nhất về chị ta nhất định là đôi mắt - rực sáng như lửa, đầy mạnh mẽ và kiên định. Khi đôi mắt ấy hướng về phía tôi, chúng vẫn không thay đổi. Tôi không thể không tự hỏi, đối với một cô gái trông không quá mười lăm tuổi, cuộc sống thế nào đã đem lại cho chị một đôi mắt như thế?

Reines El-Melloi Archisorte.

Em nuôi của sư phụ tôi, và là người ấn định ngài vào chức vụ Lord. Theo sau lưng chị là một hầu gái với dáng vẻ có phần khác lạ.

Điểm kỳ lạ là màu da của cô ta. Cô ta không mang nét của người da trắng, hay người da đen, hay người da vàng. Không, màu da của cô hoàn toàn không giống con người - màu sáng bạc. Người hầu gái, nghe nói được đặt tên là Trimmau, thật ra là một thiết kế tiên phong trong lĩnh vực Hình Nhân Tự Động. Nghe nói mặc dù lĩnh vực ma thuật liên quan đến việc tạo ra người nhân tạo vốn đã bắt đầu tụt dốc, nhưng riêng Hình Nhân Tự Động này lại hoàn toàn khác về mặt bản chất nên không chịu chung số phận ấy, nhưng đó là điều một người như tôi không thật sự hiểu rõ.

Ánh mắt của Reines lập tức chú ý đến tôi.

"Ô? Vậy ra em cũng đến đây à."

"…Vâng."

Phân vân xem nên đáp lại thế nào, tôi thu ánh mắt lại, và lập tức nhận được một nụ cười dễ thương từ chị. Với nụ cười châm chọc, cô gái tóc vàng mở miệng lần nữa.

"Cuộc sống làm đệ tử ra sao? Sư phụ ma mãnh của em có trêu ghẹo gì em không?"

"…Ừmm… So với ở miền quê, sống ở đây dễ chịu hơn."

Như thể đọc thấu suy nghĩ của tôi, chị gật gù.

"Hô hô, như vậy tốt đấy. Dù sao, người như anh trai chị mà lại nhận đệ tử thì không phải để làm chuyện đơn giản như công việc nhà. Có thể nói, em giống như phòng tuyến cuối cùng. Em hiểu không? Đó là một trọng trách, em biết chứ?"

"…Em sẽ cố gắng hết sức."

Không biết phải đáp lại thế nào, tôi ngoan ngoãn đưa mắt nhìn xuống. Khi tôi làm vậy, Reines vươn ra một ngón tay trắng nõn.

"Em trông đáng yêu hơn khi bỏ mũ trùm xuống đấy, biết không."

Bằng một cái vỗ nhẹ lên mũ trùm của tôi, chị đi ngang qua tôi và bắt đầu bước xuống cầu thang xoắn. Thật sự thì tôi có phần ngưỡng mộ chị ấy. Hai người họ không có quan hệ huyết thống nhưng họ vẫn là người trong một gia đình, nên tôi không thể không nghĩ rằng thật hay khi sư phụ tôi được kế tục từ một nhân vật giống như vậy.

Nhưng thế giới thực tại là một thế giới vô tình.

Lòng thầm buông một tiếng thở dài, tôi xốc lại tinh thần-

"…Em xin phép vào ạ."

-và mở cửa ra.

Một đám bụi ập đến bất chợt khiến tôi ho một tiếng.

Bên trong đúng y như những gì người ta tưởng tượng về một căn hộ rẻ tiền. Cũng như về kích thước, nó chẳng có gì đặc biệt, nhưng nếu không tính đến giới hạn không gian thì đồ vật cũng linh tinh bề bộn. Không hề theo một trật tự nào, mọi thứ xếp lung tung từ sách, cái bàn kiểu cổ điển, vài mẩu bánh mì mốc, và không hiểu sao còn có một số máy chơi game console cũ rích, tất cả đều gói gọn trong không gian nhỏ hẹp của căn phòng.

Nếu hỏi, ngài sẽ nói chúng đều là những đồ vật rất quan trọng, nhưng ngài thật sự là một người thầy không hề nhận biết hiện trạng đồ dùng của chính mình. Nhưng từ cách mà ngài vất vả tìm đồ, luôn luôn phàn nàn về việc không thể tìm ra cái này hoặc cái kia, thì ít có khả năng ngài không hiểu tình huống của mình, và nhiều khả năng là ngài không thể dọn dẹp gọn gàng. Trước đây, tôi từng xin phụ giúp dọn dẹp nơi này một chút nhưng lời đề nghị của tôi lập tức bị từ chối. Ngài nói rằng ngài muốn yên tĩnh một mình trong ngày nghỉ lễ của mình, nhưng thật sự mà nói thì tôi không thể nghĩ ra ngài làm gì một trong căn phòng như thế, kể cả trong ngày nghỉ lễ.

Thận trọng để không dẫm phải mẩu bánh mì và những cuốn sách vất vưởng trên sàn - đồng thời tự hỏi làm sao mà Reines và người hầu của chị ấy qua được chỗ này - tôi đi đến cái bàn lớn ở giữ căn phòng, gần bên ghế sofa mà sư phụ tôi đang nằm thượt ra.

"Thưa sư phụ."

…Không có phản ứng.

Nằm trên sofa như mất hồn, mí mắt của ngài tỏ dấu hiệu cho thấy ngài đang trong tâm trạng cố gắng chối bỏ thực tại. Nếu niềm kiêu hãnh của ngài cho phép thì tôi đoán ngài còn muốn bịt tai lại và hét lên nữa. Ngài có thể là sư phụ của tôi nhưng mà ngài vẫn dễ dàng gục ngã khi gặp phải những chuyện như thế.

"Là đệ tử, Gray đây ạ."

Để cho chắc chắn, tôi nhắc lại lần nữa, nhưng như đã đoán, ngài vẫn không có phản ứng. Bỏ cuộc, tôi chuyển ánh mắt sang cái bàn. Giữa một đống bừa bộn là một khoảng trống trông như mới vừa được dọn. Đặt tại đó là một tách trà còn ấm, cùng với một xấp ảnh chụp. Tôi không mấy hứng thú với chúng nhưng một trong những bức ảnh thu hút sự chú ý của tôi.

Chỉ là nó trông rất… kỳ lạ.

Nó trông như một phần của một bức tranh tôn giáo. Bức họa mô tả cảnh một bầu trời, tràn đầy vẻ liêng thiêng và mộc mạc. Điểm nhấn của bức tranh lại trông bất hợp lý hết sức - một bánh xe phát sáng. Nổi bật giữa không trung, nó trông như người gác cánh cổng thiên đàng, vành ngoài của bánh xe là các con mắt xếp thành hàng và cùng nhìn chằm chặp vào tôi.

"…Quái vật bánh xe ư…?"

"…Ta không yêu cầu trò phải văn vẻ hơn hay gì đâu, nhưng chẳng lẽ không thể diễn tả cho phù hợp hơn một chút nào sao?"

Khi tôi đang xăm xoi bức họa với cái đầu nghiêng sang bên, một tiếng nói đầy vẻ mệt nhọc hướng đến tôi.

"A, sư phụ."

Như thể phải làm một động tác phiền hà, sư phụ tôi dựng nửa thân trên khỏi sofa và gãi đầu. Từ vẻ bề ngoài, ngài trông khoảng 30 tuổi. Làm cách nào mà ngài giữ được bộ tóc dài với lối sống đó là một điều bí ẩn, nhưng bộ tóc được chăm chút đủ để cho thấy tính lập dị của ngài không đến nỗi đáng khinh. Có vẻ như là nhờ ngài được nuôi dạy trong một gia tộc thịnh vượng.

"Có thể về cơ bản chỉ là tạm thời, nhưng dù vậy, khi làm một đệ tử của pháp sư, trò làm ơn đừng buông ra từ 'quái vật' một cách dễ dãi như vậy. Thứ này là một trong các Thiên Sứ điển hình đấy."

Vừa nói, ngài vừa vỗ vào tấm hình trên bàn.

"Một Thiên Sứ? Thứ này có chỗ nào giống một Thiên Sứ?"

"Hình tượng Thiên Sứ với dạng hình người có cánh đã trở nên khá phổ biến, nhưng thật ra nó ảnh hưởng chủ yếu bởi hình tượng Nữ Thần Chiến Thắng Nike trong thần thoại Hy Lạp vào Thế kỷ Bốn. Thiên Sứ quả thật có thể chia thành một số dòng giống. Trong trường hợp này, có lẽ hữu hiệu nhất là nên bắt đầu giải thích từ chuyện Thiên Sứ thật ra là gì."

Chống cằm, sư phụ tôi bắt đầu nói bằng giọng làu bàu.

"Đầu tiên là dạng sống tồn tại cao hơn và vượt trên thần thoại, dạng sống đã được thay đổi phân loại thành Thiên Sứ. Thứ hai là sinh thể được sinh ra từ quyền lực của một chủ thể gốc, sinh thể trở thành Thiên Sứ sau quá trình biến đổi thành cá thể độc lập. Có một số giả thuyết, như Ngai Thần [Throne] mà trò thấy ở đây có lẽ là dạng gần gũi với chủ thể. Nhận lấy Quyền Năng [Power/Quyền Thần] của chủ thể vào trong mình, nó là một Thiên Sứ với mục đích chính chỉ là vận chuyển Quyền Năng đó."

"Vậy nó là một bánh xe, bởi vì nó đang được dùng để vận chuyển Quyền Năng đó?"

"Lời giải thích hiện thời thực ra là ngược lại. Có thể Thiên Sứ này được sử dụng để vận chuyển Quyền Năng bởi vì nó là một bánh xe. Trong Kinh Thánh, trong các ghi chép của nhà tiên tri Ezekiel, có một đoạn tả rằng 'những con mắt đính trên bề mặt của một bánh xe phát sáng như beryl'[4]. Nói ngoài lề một chút, thậm chí có những thuyết nói rằng đây là thứ mà người thường thấy được khi tuyên bố rằng họ nhìn thấy vật thể bay không xác định."

"Thiên Sứ là… vật thể bay không xác định ư?"

Sự biến đổi nhanh đến không ngờ trong cuộc bàn luận khiến tôi nhảy ngay vào kết luận. Thấy thế, sư phụ tôi bắt đầu cười. Xét thấy tâm trạng của ngài đột nhiên tốt lên như vậy, hình như chúng tôi vừa đụng đến một đề tài mà ngài đặc biệt hứng thú.

"Có một nhóm người vào Thế kỷ 20 đã gọi mọi thứ là vật thể bay không xác định, hình như thế. Mọi thứ từ tranh lễ thanh tẩy cho Chúa đến bích họa ở Ai Cập, 'không nghi ngờ gì', là do vật thể bay không xác định. Không có bất kỳ ý nghĩa sâu xa đặc biệt nào, bánh xe bay trên trời đúng là như làm khơi dậy trí tưởng tượng. Trước hết, đa phần các báo cáo ghi nhận là do dân hippy, mấy người này chẳng qua là hút thuốc phiện quá nhiều, chính đầu óc của họ mới là thứ bay... Sao đột nhiên trò lại có vẻ mặt đó vậy?"

"Ồ, em chỉ đang nghĩ, đúng là có nhiều người giống sư phụ trên thế giới này nhỉ?"

"Đừng có đánh đồng ta với mấy người đó. Đôi khi, những lập luận cưỡng ép là cần thiết, nhưng ma thuật làm sao có thể kết thành từ việc chắp vá toàn những kiến giải chủ quan được? Nói chung, ở mức độ này thì nó chẳng phải xu hướng của pháp sư, mà là vấn đề giáo dục phổ thông rồi."

Bất chấp câu nói đại loại như "mặc dù trò là đệ tử tạm thời" lúc nãy, ngài khéo léo rút lại những lời đã nói trong cái cười quá mức cần thiết. Dường như gương mặt ngài thấp thoáng vẻ đắc thắng, tính trẻ con và nhỏ mọn dung hòa một cách khốn khổ với nhau.

Ngài được gọi là El-Melloi II.

Trong 12 đại gia tộc của Tháp Đồng Hồ, danh hiệu mà ngài được ban là Lord của dòng họ quý tộc El-Melloi.

***

Có lẽ nói hơi trễ nhưng sư phụ tôi quả thật là một pháp sư.

Ma thuật là thuật kỹ hiệu triệu các thành phần cơ bản của Thế Giới, thông qua việc sử dụng 『Nguồn NhỏOd』 và 『Nguồn LớnMana』, để làm phát sinh hiện tượng biến đổi thuộc phạm vi những gì vốn dĩ thực chất có khả năng phát sinh… hoặc đại loại thế, tôi nghe nói Od là năng lượng sống hiện hữu trong mỗi con người, trong khi Mana là ma lực ở quanh ta, nhưng hiểu biết của tôi về môn học này vẫn còn khá hạn hẹp.

Có một điều mà tôi biết chắc chắn, rằng việc làm một pháp sư nghĩa là quay lưng lại với thế giới, và hy sinh tất cả không vì lợi ích gì khác ngoài cho bản thân và ma thuật của mình. Tôi từng nghe nói rằng mọi hành động nhằm che giấu ma thuật khỏi con mắt bàng dân thiên hạ là vấn đề quan trọng, nhưng thỉnh thoảng tôi lại thầm nghĩ rằng pháp sư chẳng qua chỉ là những người thích giam mình trong phòng và trốn tránh thế giới bên ngoài.

Cho nên…

"…Em hiểu câu chuyện về Thiên Sứ rồi."

Cố gắng che giấu cảm xúc trên gương mặt của mình, tôi cúi đầu xuống.

Phải, đây là sư phụ tôi.

Có thể trong xã hội đương đại có những khác biệt, nhưng ít nhất thì ở nơi tôi sống trước đây, thông thường người ta dành cho cấp trên của mình sự tôn trọng tương xứng. Nên dù sư phụ tôi không được yêu mến, tôi vẫn phải tỏ ra lễ độ.

"…Nhân tiện, ngài không có ý định sống trong dinh thự với tiểu thư Reines sao ạ?"

"Ta làm sao sống cùng với cái con ác quỷ đó được chứ? Dạ dày của ta sẽ bị hỏng trong ba ngày mất. Mà không, nó đã hỏng rồi đấy."

Nằm trên sofa và xoa bụng, sư phụ tôi làm ra bộ mặt sưng sỉa. Một thoáng sau, ngài buông một tiếng thở dài.

"Dù sao, ta đã nói là sẽ nhận nhiệm vụ, nên ta cần ít nhất vài phương án tối thiểu."

"…Ha."

Vì tôi không biết rõ chi tiết về cuộc bàn thảo của họ nên chẳng có gì cho tôi làm ngoài đưa ra một lời đáp có vẻ phù hợp nhưng thực chất là vô nghĩa. Như thể nhận ra gì đó, sư phụ tôi nhắm một mắt lại và hừm một tiếng.

"Tiện thể, trò nghĩ gì về Thiên Sứ?"

"…Lại nữa ư?"

Chắc hẳn là cái vẻ không khoái đề tài này hiện rõ ràng trên mặt tôi. Bất kể nó có liên quan đến ma thuật hay không, tôi khá là yếu kém trong các cuộc nói chuyện dài dòng. Thực sự thẳng thắn mà nói, đối với tôi thì người sống nói quá nhiều. Đặc biệt là người thành phố.

"…Ờ, họ là sứ giả mà Chúa phái đi để ban phúc cho con người, phải không ạ? Hồi xưa, linh mục gần nhà em thường hay nói về họ."

"Ta không hỏi về chúng theo quan điểm thông thường. Ý ta là, trò nghĩ gì về chúng theo khía cạnh liên quan đến ma thuật?"

"I hi hi hi! Dù mi có nói thế thì cô ta cũng không thể nào hiểu nổi đâu! Vì dù sao cô ta cũng hơi ngốc mà!"

Đột nhiên, một giọng hoan hỉ vang lên.

Vốn dĩ, những người duy nhất trong phòng là sư phụ tôi và tôi. Nên tiếng nói này hẳn là của người thứ ba không thấy chân tướng. Cả sư phụ tôi lẫn tôi đều biết ai là chủ nhân của giọng nói đó, nên cả hai đều không mấy ngạc nhiên. Đúng hơn thì, vì biết rằng bận tâm đến lời nói đó là lãng phí thời gian, chúng tôi chỉ đơn giản là lờ đi càng nhiều càng tốt và tiếp tục với bài giảng.

"…nhưng thật lòng mà nói thì em cũng không sáng dạ cho lắm."

"Đó không phải là vấn đề. Dù không tính đến thực tế, trò là đệ tử của ta, ta sẽ không ngồi yên và để người của ta bị sỉ nhục ngay trước mặt ta. Hãy nhớ điều đó."

Âm thanh nghe như tiếng vọng của thứ gì đó đóng sầm lại.

Có lẽ vì sự thay đổi giọng điệu bất ngờ trong cuộc nói chuyện vừa rồi, tiếng nói thứ ba đột ngột rút lui vào im lặng.

Khi đã lắng dịu lại, sư phụ tôi vươn tay về phía cái bàn. Lấy một điếu xì-gà trong hộp đựng bằng kim loại, ngài dùng một con dao để cắt một đầu. Bật lửa, ngài châm điếu xì-gà và rít một hơi sâu. Sau khi xong, ngài đan tay lại tựa lên đùi.

"Vậy thì ta hãy bắt đầu một bài giảng mới."

Trong tư thế thả lỏng, ngài bắt đầu nói.

"Trước tiên, hãy bắt đầu từ Thiên Sứ mà trò đã nói lúc nãy, sứ giả của Chúa. Điều đó cũng đúng. Thật ra, Thiên Sứ được sử dụng trong ma thuật cũng lấy nền tảng từ điều này. Năng lực của Thiên Sứ ban phát phước lành của Chúa là mối quan tâm của pháp sư trong thời đại ngày nay. Cụ thể là, công dụng của Thiên Sứ hiện đang trong tình trạng được tái phát minh bởi các pháp sư thời nay."

Mặc dù là một lời giải thích gần như lặp lại, nhưng lần này tôi có thể hiểu được rõ ràng. Sự khác biệt hiển nhiên. Lời giải thích trước về một người chung chung, trong khi lời giải thích này là kiểu bài giảng tại Tháp Đồng Hồ. Không còn vẻ lừ đừ trước đó, sư phụ tôi hiện đang nhìn tôi từ bên kia cái bàn bằng một ánh mắt sắc sảo.

…Đúng vậy.

Sư phụ tôi không tài giỏi cho lắm nếu xét về mặt ma thuật.

Điều này không phải là châm chọc, hoặc khiêm tốn, hoặc coi thường. Quả thật trong trường hợp này, dù tốt hay xấu, ngài chỉ là bình thường. Cho dù ngài hiện đang có vị thế ở Tháp Đồng Hồ nhưng chưa từng nghe nói người ở địa vị ấy mà vẫn ở Bậc Bốn, hoặc theo như tôi được nghe rất nhiều lần từ những người khác trong hai tháng ở tại nơi đây. Mặt khác, giá trị của sư phụ tôi không hề thấp về mọi mặt.

Là một giảng viên, ngài có thể đem đến những thành tích đáng kinh ngạc. Về điểm này thì tôi, hiện đang là đệ tử riêng của ngài, đang bị tụt hậu so với các bạn học khác. Đối với niềm vinh dự được kèm cặp riêng bởi Lord El-Melloi II, tôi cảm thấy những cái nhìn ghen tỵ xỉa xói mình.

Nếu đưa ra hình ảnh liên tưởng thì mối quan hệ của chúng tôi giống như một tay đấm bốc với người phục vụ đấu sĩ, hoặc một vận động viên với huấn luyện viên. Cho dù có tấm gương hoàn mĩ trong đầu, tôi không có khả năng đặc biệt để tái hiện chúng. Tôi không biết sư phụ tôi thực sự cảm thấy thế nào trước những trường hợp đó. Nhưng điều tôi có biết là, có nhiều biệt danh được gán cho ngài tại Tháp Đồng Hồ vì địa vị khác lạ của ngài.

Ví dụ như Professor Charisma.

Hoặc Master V.

Còn một số biệt danh khác nhưng khiếm nhã hơn, nên tôi sẽ không đề cập đến.

Dù sao thì, tôi đưa ra một câu hỏi về bài giảng vừa rồi.

"Tái phát minh? Thiên Sứ sao?"

"Đúng. Trò biết về bốn nguyên tố cơ bản rồi phải không?"

Trong khi thưởng thức mùi vị của điếu xì-gà, sư phụ tôi xòe ra bốn ngón tay.

"Đất, Nước, Lửa, Gió." Vừa gọi tên chúng, ngài vừa gập lại từng ngón một. Chúng được gọi là bốn nguyên tố cơ bản, là phần nền tảng của ma thuật, và là điều mà ngay cả tôi cũng biết.

"Vào thời Hy Lạp cổ đại, chúng là bốn nguyên tố sinh ra từ Arche." sư phụ nói.

Arche trong tiếng Hy Lạp là sự khởi đầu của vạn vật… hay đại loại thế, nếu tôi nhớ không lầm.

"Trong Giả Kim Thuật, tứ đại nguyên tố và các nguyên tố căn bản là giống nhau. Thậm chí hiện nay, đa số mọi người đều cho là vậy. Những thứ như 12 Cung Hoàng Đạo, hoặc Ngũ Hành của Đông Phương chẳng hạn, cũng không có gì khác. Chúng chỉ phục vụ như những hệ thống tiện lợi cho việc phân loại mọi sự vật trong thực tại. Mặc dù đây là bốn nguyên tố được áp dụng ở những nơi giống như Tháp Đồng Hồ, chúng ta thật ra cũng thêm vào nhiều nguyên tố khác, như Hư Vô, và các nguyên tố hóa học. Điều này hướng về mặt ứng dụng nhiều hơn, nhưng bây giờ ta đang lạc đề rồi."

"Ư, em được bảo rằng em thuộc hệ Đất."

"Phải. Về mặt ý nghĩa ấy, nó được dùng để khái quát hóa ưu điểm và khuyết điểm của trò. Kết quả là, có những kẻ quái vật sở hữu thuộc tính Nhị Trùng và Ngũ Đại Nguyên Tố, nhưng hãy quay lại chủ đề ban đầu. Tóm lại, hệ thống các nguyên tố được sử dụng như một hệ thống phân loại tiện dụng, nhưng kể từ sự vươn lên của Ma Thuật cận đại vào cuối Thế kỷ 19, điều đó bắt đầu thay đổi. Bằng sự dung hợp với Khái Niệm Thiên Sứ trong hệ thống, chúng đã được trao cho một ý nghĩa mới."

"Một ý nghĩa mới?"

"Chính xác."

Nhìn xem tôi hiểu lời ngài nói đến đâu, ngài tiếp tục.

"'Vật chứa Quyền Năng' là điều mà rất nhiều người hiện nay tin vào."

Như thể đang tạo hình một chiếc Chén Thánh lên bàn, ngài gật nhẹ một cái, rồi chúng tôi im lặng.

Khói xì-gà của sư phụ tôi bắt đầu cuộn quanh bàn tay đang khum hình cái chén của ngài. Hình ảnh này khiến tôi liên tưởng đến nước thánh. Có phải Thiên Sứ cũng như thứ nước đó? Hay là vật mà ngài mô phỏng bằng bàn tay của mình?

"Ma thuật là thứ phải được giữ bí mật, nhưng trái lại, các khái niệm trở nên mạnh mẽ và vững chắc hơn khi càng có thêm nhiều người tin vào chúng. Tương tự như ảnh hưởng từ quá trình tư duy đằng sau sự Huyền Bí, các nhà thơ như Baudelaire, Arthur Rimbaud, và W.B. Yeats ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình này."

Giọng nói của sư phụ vang lên nặng nề trong không gian tù túng của căn phòng.

Tiếp đó, từ vật chứa mà sư phụ tôi tạo ra, một loại sóng ảo nào đó bắt đầu lan tỏa. Không, có thể đây thật sự là điều đang diễn ra. Có thể chẳng qua là tôi không đủ trí tuệ để hiểu về hiện tượng này, nhưng thao túng thứ "sức mạnh vô hình" như thế này vốn dĩ là kiểu hành vi của pháp sư. Các bước sóng liên tiếp lan tỏa từ bàn tay của ngài bật lại những tấm gương và bùa chú trong căn phòng và xung quanh chúng tôi.

Kiểu như chính căn phòng này đã được biến đổi thành một Thần Điện.

"Có phải trò vừa nghĩ nó trông như một Thần Điện?"

"...."

"Không cần phải ngạc nhiên. Ta cố ý làm cho nó giống vậy, nên nhận định của trò rất đúng. Bởi vì ta thật sự đang làm biến đổi căn phòng này thành một Thần Điện ngay lúc này."

"Hở?"

Chớp mắt kinh ngạc, tôi không hiểu ý ngài là gì.

Có lẽ gương mặt của tôi trông hơi khác lạ, bởi vì sư phụ tôi bắt đầu cười khùng khục. Ngài có vẻ đang vô cùng khoái trá, cảm giác như thể tôi đã rơi vào một cái bẫy nào đó.

"Trò cảm thấy sự thay đổi khác lạ trong không khí, đúng không? Đó là một Thần Điện. Trong tiếng Latin, nó được gọi là 'templum', nhưng trò chỉ cần hiểu nó là một nơi để thần có thể hiện thân tạm thời."

Có thể bởi việc bàn luận về Thiên Sứ vốn đã ngụ ý về mối liên hệ với nhà thờ, nhưng không hiểu sao tôi lại có thể dễ dàng hiểu được lời giải thích của ngài.

"Nên về cơ bản, nó không chỉ là nơi để tín đồ thờ phụng, mà là nơi để thần thánh thật sự hiển linh, nên ta gọi nó là Thần Điện, đúng không ạ?"

"Phải, chính xác. Hiện giờ, có vẻ như ta đang dùng hình tượng một chiếc Chén Thánh và những thứ khác trong phòng để làm cho nó trông giống vậy, nhưng trên thực tế, đây là vấn đề đáng kể. Bình thường đối với ma thuật thì cần có đất tế, đúng không? Nó là một thuật kỹ có thể trông tương tự với kết giới của Phật Giáo, nhưng trong trường hợp này, Thiên Sứ nằm ở cốt lõi của hiệu ứng."

"..."

Khi sư phụ tôi ngừng nói một chút, tôi cũng chìm vào trong suy nghĩ.

Một Thần Điện là nơi thần linh có thể hiện thân tạm thời. Và Thiên Sứ là "Vật Chứa Quyền Năng". Nên trong trường hợp đó, mối quan hệ giữa hai điều này là…

"Ờ… có lẽ nào đó chính là việc ban cái danh Thiên Sứ cho một thứ ma lực mơ hồ, và sử dụng nó trong ma thuật?"

"Chính xác."

Vẫn ngồi trên sofa, sư phụ tôi cầm lấy tách trà đã nguội từ lâu và đưa lên môi.

"Hồi nãy, ta có nói rằng khi càng có nhiều người tin vào khái niệm, chúng sẽ trở nên vững chắc. Nếu đã vậy, chẳng có gì là lạ khi có những người nghĩ rằng khái niệm Thiên Sứ được lan truyền trên thế giới này chính là thứ lý tưởng để làm ổn định vững chắc ma thuật. Thật ra thì khi nhìn vào một số hội ma thuật khác nhau, trò có thể thấy nhiều người cho rằng tư tưởng này cực kỳ hấp dẫn."

Đặt tách trà xuống, sư phụ tôi giơ hai ngón tay.

Ngài vừa dùng hai ngón tay để vẽ hình một ngôi sao năm cánh trong không trung trước mặt mình, vừa lẩm nhẩm câu gì đó nghe như "Phía trước ta Raphael, đằng sau ta Gabriel".

"Đó gọi là Nghi Thức Tiểu Ngũ Tiêm Tinh. Nó gọi lên cái tên của bốn Tổng Lãnh Thiên Sứ, mỗi cái tên đại diện cho một trong bốn nguyên tố, để hiến tế một lãnh địa hoặc chuẩn bị thực hiện một số ma thuật tiếp theo đó. Tất nhiên, điều đơn giản như lời cầu khấn này có thể dễ dàng biết đến trong tạp chí thời nay. Tất nhiên, các nghi thức kiểu này có đầy rẫy trên thế giới, và phần lớn đều là giả, chỉ để tượng trưng, hoặc hoàn toàn vô nghĩa, nên Tháp Đồng Hồ cứ mặc kệ cho chúng như thế."

Với vẻ thỏa mãn, ngài chuyển ánh mắt sang cửa sổ. Một tia nắng lọt qua kẽ rèm cửa. Từ "kẽ" thật sự có vẻ phù hợp với những người như chúng tôi. Khoảng cách giữa chúng tôi và thế giới, những nơi tràn ngập ánh sáng, ngược lại với không gian mà chúng tôi đang chiếm hữu, và một kẽ nhỏ cho phép hai bên tương tác với nhau.

Ánh sáng nhạt nhòa, như một Thiên Sứ.

"Tuy vậy, những thay đổi của một khái niệm thật sự có tác động lên ma thuật." Sư phụ tôi lẩm bẩm.

Trong chiếc tách giờ đã được để lại trên bàn, các gợn sóng lăn tăn trên mặt nước. Dường như nghi thức mà sư phụ vừa biểu diễn đang tác động lên nó, mặc dù hơi muộn một chút.

"Hơn nữa, có thể mọi thứ chẳng qua chỉ là một phần trong kế hoạch của người nào đó. Các nghi thức sử dụng tên của Chúa để khống chế quỷ dữ xuất hiện rất nhiều vào thời xưa. Tất nhiên đối với pháp sư, đâu phải ai cũng là con chiên của đạo Cơ Đốc Giáo. Chúng ta chỉ sử dụng khái niệm phổ biển về Tên Của Chúa, mà theo đó vạn vật đều phải phục tùng. Thời xưa, nó tương tự như cách thức hoạt động của Internet Protocol [Giao Thức Liên Mạng] - Ừ thì, ta đoán lời giải thích này chỉ khiến trò thêm rối rắm hơn mà thôi. Theo suy luận này, công dụng của Thiên Sứ là một điều không thể không gặp phải. Dù sao đi nữa, so với việc sử dụng tên của Chúa thì nó là khái niệm dễ sử dụng hơn nhiều."

Tôi hiểu điều đó.

Khái niệm Thần Linh là một khái niệm có một "sắc thái" cách biệt. Có thể gọi nó là niềm tin. So với nó thì Thiên Sứ rất đa dạng, ví dụ như Thiên Thần Bảo Hộ hay Thiên Thần Sa Ngã. Vì lý do đó, các loại nghi thức có thể được sử dụng để khai thác Thiên Sứ mạnh hơn nhiều.

Và vì thế cho nên sư phụ tôi gọi nó là một sự tái phát minh.

"Nào, sự phát triển của Ma Thuật cận đại ở phương Tây hầu như hoàn toàn bị chi phối bởi ảnh hưởng của những Thiên Sứ này. Không, thật ra nó không giới hạn trong Ma Thuật cận đại. Có thể khó nhận thấy nhưng khái niệm Thiên Sứ hầu như chắc chắn là có tác động lên tất cả ma thuật. Đối với các pháp sư đương đại, bất kể với mục đích lợi dụng Thiên Sứ hay tiêu diệt chúng, nhìn chung thì họ đều nắm bắt được bất cứ thay đổi nào xảy ra đối với chúng."

Sư phụ tôi nhắm mắt lại. Rồi chầm chậm nói như than thở.

"Theo một nghĩa nào đó, có thể nói rằng pháp sư hiện đại chính là nghề sưu tập Thiên Sứ đấy."

"..."

Bất chấp sự thiếu nhạy bén của tôi đối với các vấn đề ma thuật, những từ này vẫn gây chấn động ngay cả đối với tôi. Chúng như thể thi từ, nhưng hơn thế nữa, chúng như chọc thẳng vào tâm điểm của sự thật. Như thể ngài đang tạm dừng để cho vẻ sâu xa của những từ đó lắng xuống, sự im lặng lần này kéo dài hơn lần trước.

"Và vậy là, vấn đề hiện giờ là lâu đài này." Ngài nói trong khi di chuyển ngón tay.

Ngài đang chỉ vào một trong số các bức hình xổ ra từ bao thư trên bàn. Tại một nơi có vẻ là rất sâu trong vùng hoang vu, có một lâu đài xám với các tháp nón thuôn tròn và tường thành bao bọc.

"A."

Phải.

Vốn dĩ Reines đến đây là để đưa ra một yêu cầu cho sư phụ tôi. Tôi đã bị cuốn hút vào bài giảng khiến mình quên hết mọi thứ. Cúi đầu giấu đi bộ mặt ngượng ngùng của mình, tôi nói:

"Vậy, có chuyện gì với lâu đài này?"

"Ta đã nói khi nãy, nhưng bây giờ nhắc lại, thứ mà ta đang nói đến là sự hiện diện công khai của ma thuật - về cơ bản, một thể loại ma thuật đã trở thành từ cửa miệng. Thực tế, ma thuật mà chúng ta sử dụng là thứ vượt trên nó. Sẽ là một sai sót nếu nói các thay đổi liên quan đến Thiên Sứ không tác động đến nơi đây, nhưng những chi tiết về sự tác động ấy là điều không quan trọng. Vấn đề thật sự quan trọng ở đây lại không liên quan đến chuyện đó. Thần Bí Học [Mysticism] và Huyền Bí Học [Occultism] đóng vai trò như thể cùng thuộc lĩnh vực ma thuật, nhưng chúng không tương đương nhau về mọi khía cạnh."

Gương mặt của sư phụ tôi hình như trở nên ưu tư. Ngài chỉ từng nhận những yêu cầu vô lý từ người em gái nuôi của mình, cứ như là tấm danh thiếp của chị ấy. Dù vậy, ngài không thể từ chối. Bề ngoài thì là chuyện gì đó liên quan đến một khoản tiền khổng lồ, nhưng tôi không được biết chi tiết. Điều duy nhất mà tôi biết chắc đó là nó liên quan trực tiếp đến lý do mà ngài nhận được danh hiệu Lord El-Melloi II. Bằng giọng chua chát, sư phụ tôi nói tiếp:

"Nhưng với góc nhìn là một Lord, có những pháp sư trong lĩnh vực ảnh hưởng của ta trở nên hứng thú với những ý tưởng này. Đặc biệt hơn, họ trở nên quá ám ảnh với chúng đến nỗi muốn tái tạo lâu đài này bên trong chính lãnh địa của mình. Hãy nhìn lại bức hình này."

Để ý kỹ thì thấy khá rõ ràng rằng lâu đài này có hình dáng rất kỳ lạ. Có thể thấy điều đó là do thời tiết vào thời gian chụp bức hình này, nhưng dựa theo phần ánh nắng bị chắn bởi lâu đài, tạo ra một cái bóng trông như thể chính lâu đài này có muôn vàn đôi cánh nguy nga. Lâu đài trông như một vị thần có cánh bị mất tay và đầu. Kiểu dáng của nó dễ khiến người ta liên tưởng đến hình ảnh thần Nike ở Samothraces[5] mà sư phụ tôi đã nói lúc trước. Mức độ trùng hợp ngẫu nhiên đủ để khiến cho tôi thấy lạnh sống lưng.

Cứ như thể bản thân lâu đài là một cá thể sống độc lập hoàn toàn.

Đúng vậy.

…Như thể bản thân lâu đài này là một Thiên Sứ.

"Lâu Đài Biệt Cư, Adra," sư phụ tôi nói.

"Hiển nhiên là chủ nhân trước đây của lâu đài đã gọi nó như thế. Nghe nói người chủ này có một số mối liên hệ với Lord El-Melloi đời trước. Thật ra nếu Lord El-Melloi đời trước mà thấy được chuyện gì đang diễn ra bây giờ, ông ta sẽ nhảy cỡn lên vì vui sướng. Ta cảm thấy như ông ta sẽ lại làm phiền ta hàng tiếng đồng hồ, nói gì đó kiểu như 'Đây là kết quả mà trò nhận được khi đụng chạm vào những thứ không thuộc về mình'."

Lord El-Melloi tiền nhiệm.

Cũng như bây giờ, tên của ông ta vẫn được nhắc đến trong cuộc bàn luận, nhưng chuyện ông từng là một người thế nào vẫn còn là một điều bí ẩn. Những gì mà tôi được nghe kể là, khác với sư phụ tôi, ông từng là một thiên tài vô tiền khoáng hậu. Còn nữa, suy ra từ những cuộc bàn tán nho nhỏ, có vẻ như ông có hơi xấu tính, nhưng tôi không dám chắc.

Và còn một điều nữa.

Một điều mà tôi không nhận ra mãi đến sau này. Kiểu như vào khoảng sáng sớm, sư phụ tôi đã quyết định chấp nhận yêu cầu được giao từ Reines. Bất kể rằng ngài định thu xếp tạm thời hay thu thập thông tin, tôi không biết, nhưng bất kể rằng ngài đang theo đuổi cái tiến trình đi ngược với nguyện vọng của mình này, hay chỉ đơn thuần là chịu thua và chấp nhận nó, đây chắc chắn là điều khiến cho ngài bị đau bụng.

Nếu hỏi tôi tại sao thì câu trả lời là, sau khi trầm ngâm một hồi-

"…Thế nên, đúng vậy. Xin thứ lỗi nhé tiểu thư, nhưng ngày mai, ta sẽ đi đến đó một chuyến. Trò có thể cảm phiền đi cùng ta không?"

Sư phụ tôi - Lord El-Melloi II, với một vẻ mặt khó chịu và giọng nói chua chát, ngài hỏi tôi câu ấy.

***

Người ta thường nói cây cối ở Anh Quốc thưa thớt. Không riêng gì vùng cực bắc của quốc gia bị bao phủ trong băng tuyết, mà nhiều khu rừng bị quét sạch do quá trình phá rừng vào thời kỳ Cách Mạng Công Nghiệp. Trên hết là, với ngọn núi cao nhất đất nước chỉ đến 1344 mét, môi trường tự nhiên còn lâu mới trở nên đa dạng hóa.

Dù nói vậy.

Theo cách nhìn của riêng tôi, đất nước này rộng bao la, và tràn đầy các loại sinh vật sống.

Qua hết những bãi dương xỉ dưới chân núi, tầng tầng lớp lớp các cây tần bì và cây sồi bao quanh con đường thông lên hông đồi. Dù bản thân con đường trông có vẻ ngoằn ngoèo, nhưng điều còn hơn thế nữa là cuộc hành trình đến đây. Mất hết 14 tiếng đi xe lửa, bao gồm nhiều lần chuyển ga, mới vào đến địa phương. Rồi sau khi nghỉ đêm tại nhà trọ trong vùng, cuộc hành trình tiếp tục với 3 tiếng trên xe buýt, và thêm 5 tiếng đi bộ nữa. Tóm lại, chúng tôi hiện đang ở giữa chốn hoang vu.

Gió tháng Chín mát mẻ, và mang theo rất nhiều mùi hương. Mùi đất ẩm ướt, cuộn hết lên theo mỗi bước chân. Mùi thảo mộc dìu dịu, đa phần là đỗ quyên dại. Mùi mốc của nhựa cây sền sệt, các con côn trùng lởn vởn, gỗ mục và phân của các loài thú. Tất cả những mùi ấy đều rất đỗi thân quen đối với tôi.

Sự sống có rất nhiều, nên không thể xem là bẩn. Tương tự như thế, cái chết có rất nhiều, nên không thể xem là đẹp. Hai ý niệm này hình như lúc nào cũng đi đôi với nhau.

Những ý nghĩ về cuộc sống ở Luân Đôn phủ đầy trong tâm trí tôi. Dẫu số người ở đấy gấp vài chục nghìn so với quê nhà của tôi, thì nó vẫn là nơi khiến cho tôi cảm thấy như hầu hết người dân ở nơi đó đều đang phục vụ cho "cái chết". Mặc dù là một thành phố được xây dựng với tâm niệm trong sáng, nó vẫn nhiều lần khiến tôi nổi da gà. Dù nếu hai tháng của tôi ở lại đó kéo dài thành hai mươi năm, tôi vẫn sẽ không bao giờ có thể chấp nhận nơi đó, và chắc chắn nó cũng sẽ chẳng bao giờ có thể chấp nhận tôi.

Thậm chí bây giờ, chỉ nghĩ đến nó thôi cũng sinh ra cảm giác kinh hãi-

"…Đ-Đợi đã…!'

"---!"

Bàn tay đặt trên vai tôi, run rẩy như thây ma, khiến tôi chùn bước. Như thể trúng phải ánh mắt của Medusa[6], tôi cứng nhắc xoay lại chút ít vừa đủ để có thể thấy phía sau.

"S-Sư phụ…!"

Tất nhiên, bàn tay vươn ra ấy là từ cái bộ dạng vô cùng kiệt quệ, nhễ nhại mồ hôi của sư phụ tôi.

"T-Tiểu thư ơi, chúng ta có thể chậm lại một chút không?" Ngài khan giọng nói.

Chẳng biết có phải là may mắn không, ngài ấy dường như không nhận thấy phản ứng của tôi. Dù sao thì, nếu có đủ điềm tĩnh để làm thế, ngài hẳn sẽ không bỏ lỡ điều đó. Dùng mấy ngón tay xoa bộ mặt cứng đơ của mình, tôi trả lời hờ hững.

"Nhưng thưa sư phụ, với tốc độ này, chúng ta sẽ bị trễ thời gian gặp mặt được ghi trên giấy mời."

"…Được rồi, vậy thì ít ra hãy cho ta xin 10 phút. Không, 5 phút thôi. Chỉ cần làm ơn để cho ta ngồi xuống."

Thở nặng nhọc, ngài giơ năm ngón tay.

"…Ngài có ba phút."

Thỏa hiệp xong với ngài, tôi tựa người vào một cây sồi gần đó. Thân thể của tôi hơi nóng nực một chút nên vỏ cây thật mát mẻ dễ chịu. Thật lòng, tôi muốn chọn tảng đá thay vì cây cối, và thậm chí là mặt đất thay vì tảng đá, nhưng nơi này có vẻ như không muốn chiều lòng tôi. Nếu chợp mắt ở đây, tôi cảm thấy như mọi chuyện trước giờ chỉ như một giấc mơ. Nhưng giả sử khi tôi tỉnh lại và thấy mình trở lại quê hương, thì chuyện gì sẽ xảy ra?

Bỗng nhiên, tôi cảm thấy một cơn đau nhói ở tay phải của mình.

"I hi hi hi hi hi hi hi! Chỉ vì trở thành một pháp sư mà mi nghĩ có thể chấp nhận để cho thân thể của mình yếu nhược vậy sao?"

Lại nữa, không phải sư phụ tôi hay tôi nói, mà là tiếng nói thứ ba không thấy chân tướng. Nói chính xác hơn thì tiếng nói phát ra từ tay phải của tôi, nhưng dù vậy, sư phụ chỉ nhìn xuống đất và phàn nàn bằng giọng mệt lử rằng "Ta lớn lên ở thành phố mà".

Tiếng nói thứ ba này không bao giờ nói về điều gì khác ngoài những lời xúc phạm và lăng nhục. Kể từ khi tôi có nhận thức về những gì xung quanh mình, giọng nói thứ ba này luôn luôn ở bên tôi, nhưng tôi chưa lần nào thấy nó có gì cải thiện. Nói vậy chứ hơn vài chục năm qua, nó chỉ có cơ hội nói chuyện với khoảng năm người, bao gồm cả tôi.

…Có phải mình cũng chẳng thay đổi gì mấy?

Tôi suy ngẫm vẩn vơ về bản thân.

Kể từ hai tháng trước, số người mà tôi thật sự trò chuyện có đầu có đuôi thậm chí không tăng được gấp đôi. Môi trường sống của tôi đã thay đổi đến chóng mặt, nhưng tôi vẫn không thay đổi gì cả. Cảm giác như thể chẳng qua là tôi đang bị bỏ lại phía sau. So với kiểu thờ ơ của tôi hiện nay, chắc chắn ngay đến quyết tâm mà tôi đã ấp ủ về việc rời quê hương còn khá hơn. Kiểu như riêng mình tôi vẫn đang trôi dạt vô định như một con sứa biển.

Sư phụ tôi, vừa chửi rủa vừa xoa nắn bàn chân của ngài, và thứ nằm bên tay phải của tôi đây, cho dù ít ra là không gì ngoài chính tình trạng hiện tại của tôi, đều rõ ràng là chỉ ra cho tôi. Vậy tạo sao tôi vẫn còn rất vụng về?

"…Tại sao mình vẫn là một đứa ngốc?"

Giống như một lời trách móc, tôi thì thầm câu đó.

Sau đó, sau rất nhiều lời phàn nàn và yêu cầu tạm nghỉ của sư phụ, chúng tôi đến được nơi mà khu rừng mở ra một vùng quang đãng.

"Ê ê, cái gì kia nhỉ?" Tiếng nói bên tay phải tôi kêu lên kinh ngạc. Tôi cũng nhíu mày.

Đó là một tảng đá.

Một tảng đã lớn đến nỗi phải cần đến ba người trưởng thành cùng chung tay mới nâng được nó. Trên tảng đá là một người đang nằm. Mặt trên tảng đá, với bề mặt làm liên tưởng đến mai rùa, ông ta khéo léo lắc lư như đang ngủ gục trong khi vẫn giữ được thăng bằng.

Ngay cả những lúc trông như sắp ngã nhưng hóa ra ông ta lại không ngã. Giống như đồ chơi con chim uống nước[7] mà tôi thường ngắm hồi còn nhỏ, những lúc trông như dừng lại, nhưng hóa ra ông lại tiếp tục chuyển động. Trên bề mặt xanh rêu của tảng đá, thân hình vạm vỡ của ông tiếp tục lắc lư tới lui, và chỉ đến khi trông như một cái đẩy nhẹ nhất cũng sẽ làm ông ngã oạch xuống đất, thì đôi mắt ông bật mở và nhìn thẳng vào chúng tôi.

"À, các bạn cuối cùng cũng đến!"

Thản nhiên xoay người sang tư thế khoanh chân, ông ngồi dậy và vẫy tay.

Đôi tay dơ hầy của ông dày cộm và chắc nịch. Mặt ông nhìn như thể chưa được cạo râu, hoặc chưa được để ý đến, trong nhiều tháng. Bụi bẩn bám dính trên da ông đến độ không thể nhận biết được màu da thật của ông.

Quần áo của ông mang lại cảm tưởng như trang phục của dân du cư, nhưng ngay cả chúng cũng không thể che đậy sự vạm vỡ của ông. Tay, chân và thậm chí cổ của ông căng dày đến kinh ngạc, chứng tỏ chúng đã được trui rèn trong điều kiện khắc nghiệt. Ông có thể chỉ cao hơn một chút so với sư phụ tôi, nhưng tôi sẽ không ngạc nhiên nếu cân nặng của ông gần gấp đôi.

"Ờ thì, hai người trông như một đôi kỳ lạ. Ờ thì, riêng anh trông cũng khá là kỳ lạ rồi, nhưng vị tiểu thư đây thì hoàn toàn khác. Khoan, ở đây không phải đang diễn ra vụ bắt cóc chứ hả?"

Điệu cười to của ông ta làm lộ hàm răng trắng đến kinh ngạc. Đôi mắt đen của ông cũng khá đẹp. Nhưng, có một vẻ nguy hiểm không thể lầm lẫn trong chúng. Đôi mắt ấy trông như vẻ ngây thơ của trẻ con trộn lẫn với vẻ gian xảo của người lớn.

"…Ừ-Ừm."

"…Ông là ai vậy?"

Phía bên tôi, sư phụ tôi nặng nhọc nói. Giọng ngài chứa đựng sự mệt mỏi khiến cho nói năng cũng là một vấn đề.

"Flue." Ông ta đáp. "Đó là tên của tôi."

"…Đó là một cái tên khá dễ thương, đối với một người có bộ dạng như ông."

"Ừ thì, tên đầy đủ của tôi là Flueger, nhưng tôi không thích cái tên ấy lắm. Nếu rút lại là Flue, cái tên này dễ chịu hơn nhiều, như một cơn gió thoảng vậy." Ông nói với một vẻ thâm trầm.

Thay vì một cơn gió thoảng, tôi nghĩ mặt trời sa mạc khắc nghiệt, hoặc một chùm đèn rực rỡ như trên sàn đấu vật thì hợp với ông ta hơn, nhưng ông quả thật có vẻ hoạt bát một cách kỳ bí. Nhưng sư phụ tôi lại có vẻ tức giận. Thậm chí tôi cũng ánh lên sự kinh ngạc trước ông ta. Trong những chuyện xảy ra trước đây, chúng tôi hiếm khi nào gặp phải một người như ông.

-Hi hi, nếu sư phụ cô là một con cáo gầy trơ xương, thì chắc gã này là con lạc đà mơ ngủ đấy nhỉ.

Một lần nữa, tiếng nói đến từ bên tay phải của tôi. Lần này, nó thì thầm đủ nhỏ để chỉ mình tôi nghe được.

"Hửmmm?"

Người đàn ông - Flue, chợt nhìn sang phía tôi. Không thể nghĩ được là ông thật sự nghe thấy tiếng nói đó. Dù thế, ánh mắt vui vẻ mà không xăm soi nhìn tôi từ trên xuống dưới. Ánh mắt bất lịch sự nhưng không quá thô thiển hình như nhìn thấu tôi. Với thái độ sửng sốt, ông giơ ra một ngón tay.

"Tại sao cô lại đội mũ trùm xám? Cô là một cô gái hết sức xinh đẹp, và không có vẻ gì là cô đang che dấu vết sẹo hay gì đó…"

"Đó là… vì…"

"Tôi rất biết ơn nếu anh để cho đệ tử của tôi được yên thân, cảm ơn rất nhiều."

Trong khi tôi đắn đo tìm lời đáp, sư phụ tôi buộc lòng phải đứng chắn giữa hai bên.

"À, vậy ra hai người là thầy trò! Tôi đã nghĩ anh có bộ mặt của một thầy giáo nhưng tôi không dám chắc…"

"Mặt tôi làm sao?"

"Có vẻ bồn chồn bực dọc, nhưng mà xem ra anh là người quan tâm đến người khác nhỉ? Các quản gia trong mấy bộ phim đen trắng thời xưa cũng hay có bộ mặt giống vậy đấy."

Với vẻ mặt nhận lỗi, Flue gãi đầu.

"Với một pháp sư thì anh hơi bị đàng hoàng đáng kính quá đấy nhỉ?"

Tất nhiên, không có chuyện tôi hay sư phụ tôi lầm tưởng cuộc gặp gỡ với ông ta ở tận chốn hoang vu này là một sự trùng hợp đơn thuần. Sau khi hít một hơi nữa, sư phụ tôi lại nói.

"Ông cũng nhận được thư mời phải không?"

"Ồ, yes!"

Flue nhảy xuống từ tảng đá mà ông ta ngồi nãy giờ. Thò tay vào trong áo thụng, ông lấy ra một lá thư, trái ngược với vẻ ngoài của ông, nó mang nét cổ xưa. Lá thư được làm từ một loại giấy cao cấp có in một hình vẽ chìm. Chúng tôi không cần nhìn cũng biết biểu tượng đóng trên sáp niêm phong và hình vẽ chìm mô tả một chiếc lông Thiên Sứ. Đương nhiên là chúng tôi cũng mang theo lá thư giống y hệt.

"Rút cuộc thì tại sao ông lại đánh một giấc ở nơi như thế này?"

"Ờ thì, tôi thấy hơi cô đơn khi đi bộ một mình." Ông ta nói một điều kỳ cục. Vung vẩy phong thư trong không khí, ông cười niềm nở. "Tôi đoán, nếu mà tôi nhận được một lời mời như thế thì chắc chắn người khác cũng sẽ đến. Và nhìn xem, đoán trúng rồi!"

"Ông có suy xét đến khả năng rằng mình có thể là người đến cuối cùng hay chưa?"

"Tôi đành chấp nhận nếu điều ấy xảy ra. Tôi đã suýt muốn khóc rồi, nhưng tôi khá nhanh đấy nhá! Tôi sẽ không đến trễ đâu."

Ông ta gập hai cánh tay thành tư thế gì trông như một kiểu cáo lỗi dở tệ. Không hiểu sao nó khiến tôi liên tưởng đến một con sư tử đang vẫy đuôi nồng nhiệt. Nó có vẻ hợp với bộ mặt bám đầy bụi bẩn và mồ hôi, cùng với ấn tượng khôi hài của ông.

Có thể nói đó là tính tốt của riêng ông.

"…Ờ.. vậy, ông có muốn đi cùng với chúng tôi không?"

Tôi đột ngột hỏi, nhận lại là cái nhìn khiển trách từ sư phụ tôi. Thật lòng tôi không biết tại sao mình lại nói thế. Không phải tôi hay sư phụ muốn có thêm người đồng hành nào khác hơn mức cần thiết, quả thật tôi có thể cảm thấy chính gương mặt của mình đang nóng lên vì ngượng chỉ với việc đưa ra lời mời ấy.

"Thật hả?!"

Với đôi mắt lấp lánh, ông ta cười vui sướng. Nụ cười của ông hào hứng như loại rượu ngon trong quán.

"Được rồi! Cô không cần phải hỏi lần thứ hai! Nhưng thật sự, tôi rất vui khi được mời. Đi một mình quá là chán."

"..."

Bất chấp vẻ chua chát lộ ra trên mặt, ông chìa tay ra với sư phụ tôi.

"Tên là Flue! Một lần nữa, rất vinh hạnh!"

"…Lord El-Melloi II. Đây là đệ tử của tôi, Gray."

Dù không nhận cái bắt tay, ngài miễn cưỡng xưng tên, ít ra để thay cho lời chào hỏi, lập tức nhận được một cái huýt sao ấn tượng từ Flue.

"El-Melloi. Ra thế, ra thế. Anh là người được nói đến trong các tin đồn ở Tháp Đồng Hồ! Vị Lord đã nhảy từ khoa Khoáng Vật sang Ma Thuật Hiện Đại đấy phải không?"

"Ừ, đúng vậy." Lần này, ngài cẩn trọng tránh trao đổi ánh mắt sau khi nói.

"Ồ, phải. Liệu anh có tình cờ mang theo chai rượu nào không nhỉ? Tôi đang khát."

"Tôi không có thói quen mang theo rượu bên mình. Và ông cũng chẳng nhận được điếu xì-gà nào của tôi đâu."

"B-lè."

Trước lời từ chối cộc lốc như thế, Flue bắt đầu tặc lưỡi liên tục, như thể muốn khóc.

"Đi thôi Gray! Nếu em chậm chân, chúng ta sẽ bỏ em lại phía sau!"

Sau khi phủi hạt cát nào đó và chỉnh trang lại áo khoác, sư phụ tôi tiếp tục hành trình lên dốc của ngài. Tất nhiên, 30 phút sau, người chậm nhất và rên rỉ suốt, y chang như mọi người đã đoán, là sư phụ tôi.

-Một hồi lâu sau, Lâu Đài Biệt Cư hiện ra trong tầm mắt.

***

Không, tôi không chắc nó có thật sự đáng được gọi là một lâu đài hay không. Mặt hồ tĩnh lặng trải rộng phía sau nó, và chiếc cầu treo gồ ghề trước mặt chúng tôi đúng là đem lại phong thái đó. Xen lẫn giữa rừng, hồ, và các bức tường đá cẩm thạch thể hiện một vẻ đẹp uy nghi khó có thể tìm thấy thậm chí trong các câu truyện cổ tích. Nếu so sánh với nhiều lâu đài nổi tiếng ở Anh Quốc thì nó không thua kém về điểm nào.

Nhưng mà.

Mái chóp dốc khổng lồ tạo nên ấn tượng về cột trụ xoắn ghê người. Rất nhiều khối đá cẩm thạch chồng lên sao cho có vẻ là được tính toán hoàn hảo để khiến người ta cảm thấy không thoải mái. Tất nhiên là chúng đã được xây dựng như thế, nhưng lại đem đến ấn tượng xa lạ rằng chúng tồn tại với hình dáng như vậy từ lúc đầu, và chúng chỉ vừa mới chui lên từ nơi ẩn náu sâu dưới lòng núi. Nơi này đem đến một loại ảo giác khó tin.

  • Cánh cổng lâu đài tróc lở, như một lồng ngực bị thủng.
  • Các bức tường thành uốn lượn, như những cánh tay ôm lấy mặt đất.
  • Khu nhà chính nằm ở một bên của lâu đài, bây giờ vẫn khiến tôi liên tưởng đến một quả tim đang đập.

Như thể một người khổng lồ bị lột da thịt, và bị lộn từ trong ra ngoài. Đó là ấn tượng mà nó để lại sâu trong tâm trí của người quan sát.

"....A..."

Thân thể tôi bỗng nhiên bắt đầu run rẩy.

So với các bức ảnh mà tôi đã thấy trước đó, nó trông dễ sợ hơn nhiều - hùng vĩ hơn nhiều.

Lâu Đài Biệt Cư, Adra.

"…Vậy ra những đứa con của Thiên Sứ là người khổng lồ ư?" Sư phụ tôi lẩm bẩm trong sững sờ.

"Những đứa con… của Thiên Sứ?"

"Là dị bản của Kinh Thánh. Theo như ghi chép trong Sách Enoch quyển một, thì những đứa con của Thiên Sứ và con người có tầm vóc tối đa là 3,000 cubit. Ứng với đơn vị tính hiện đại là hơn 1,300 mét. Kích cỡ của tòa lâu đài này hẳn là dễ dàng vượt qua nó."

"Hêê, sao anh nói ra được lưu loát vậy."

Quay sang Flue, biểu cảm của sư phụ tôi vẫn cứ càng lúc càng xấu đi.

"Nếu cũng là một pháp sư, hẳn ông phải biết chừng đấy chứ."

"Biết một cách nhất thời và nêu nó ra ngay khi có việc liên quan là hai chuyện khác nhau. Với lại, trong trường hợp này thì chẳng phải anh đã kể ra những kiến thức chỉ dựa trên vẻ ngoài đơn thuần của nó sao?"

"..."

"Đã mất công nghĩ đến người tạo ra lâu đài này, chúng ta nên nói về điều đó luôn đi nhỉ?"

"Khỏi phải nói, vậy còn ông thì thế nào nhỉ?"

Sư phụ tôi quắc mắt với Flue khi hỏi.

"Người tạo ra Lâu Đài Biệt Cư Adra này, pháp sư của nhà Ashborn là người như thế nào… Chắc hẳn ông không đến đây mà không biết điều đó chứ?"

"Oa chà chà chà. Tôi mua dây buộc mình rồi à?"

Đáp trả lại câu trả lời bông đùa của Flue, sư phụ tôi dồn ông thêm nữa.

"Tôi vẫn chưa được nghe thân phận của ông đấy nhỉ."

Nhún vai như thể chấp nhận thực tế rằng lần này không có cách nào lảng tránh đề tài, Flue xốc tay áo lên.

"Tôi là lính đánh thuê. Chủ yếu hoạt động ở khu vực Trung Cận Đông, đâm đầu vào những rắc rối có liên quan đến ma thuật. Thi thoảng cũng có kết giao với cả Tháp Đồng Hồ nữa."

"Vậy, ông là Thuật Sĩ hả?"

"Ha ha, rất xin lỗi." Flue gãi đầu nhận lỗi.

Tôi cũng đã nghe nói về họ.

Một pháp sư là người theo đuổi "chân lý ma thuật" - có khi còn được gọi là Vòng Xoáy Căn Nguyên - với tất cả những gì mình có, hết thế hệ này đến thế hệ khác, đầu tư mọi thứ và mọi khả năng cho đích đến cuối cùng ấy. Năng lực mà họ có được từ kết quả của việc theo đuổi ấy chỉ là phụ, và không gì hơn là một phương tiện để đạt được Chân Lý.

Ngược lại, cũng có những người không hứng thú gì với Chân Lý, và coi ma thuật chỉ như công cụ tiện lợi để khai thác. Những người này được gọi là Thuật Sĩ. Pháp sư thông thường căm ghét hạng người này như loài rắn độc. Hoặc ít nhất thì đó là những gì tôi nghe nói ở Tháp Đồng Hồ.

"Vậy, phỏng chừng là anh thấy phiền lòng khi bị cho rằng là đi chung với tôi. Liệu chúng ta có nên đường ai người nấy đi chăng?"

Bằng vẻ buồn rầu, Flue chỉ một ngón tay vào chiếc cầu treo dẫn đến lâu đài.

Vài giây sau.

"…Đến lúc này mà ông còn hỏi thế à?"

Sau khi bật ra câu đó, sư phụ tôi bước lên cầu treo. Dành cho tôi một nụ cười gượng, Flue cũng bước theo tôi.

Qua cổng lâu đài mở sẵn thì dễ, nhưng còn có một tiền viên rộng lớn. Được xây theo kiểu dáng vườn cây của Anh - hoặc có lẽ chính xác hơn là, như thể người chủ ít quan tâm đến nó, khung cảnh thiên nhiên đem lại ấn tượng mạnh mẽ rằng nó được xây dựng tối giản nhất. Dù vậy, như thể có gì đó khiến sư phụ tôi hứng thú, ngài đưa mắt nhìn hai ba lần vào bụi hoa hồng phía sau cổng lâu đài.

Mùi hoa hồng nồng đượm. Nhưng tôi không biết nhiều về hoa nên không rõ chúng có thật sự là hoa hồng hay không. Chỉ là có một mùi nồng và lan tỏa trong không khí.

Đứng canh giữ lối vào là một người đàn ông trong bộ quần áo chẽn. Ông ta có phần giống với một quản gia.

"Chúng tôi đang đợi các ngài đây. Lord El-Melloi II-sama, cùng với Flueger-sama." Cúi chào lịch sự, ông ta mở cửa.

Tiền sảnh bên trong rộng đến kinh ngạc. Và…

"…Aaa"

Tôi vô ý nuốt ực.

Đây là một nơi toàn Thiên Sứ.

Các tượng Thiên Sứ xếp thành nhiều hàng. Chúng có nhiều hình dáng và làm từ các vật liệu khác nhau, một số bằng gỗ, một số bằng sắt, một số thậm chí làm từ thứ gì đó có vẻ giống pha lê. Thêm nữa, các bức họa bằng kính màu miêu tả Thần Ái Tình [Cupid] cầm cung, các bức họa Tổng Lãnh Thiên Sứ [Archangel] dũng mãnh cầm gươm, và các bích họa mô tả các Quản Thần [Dominion] với quyền năng vĩ đại điểm tô cho không gian đa dạng. Ngay cả chùm đèn treo trên trần cũng được tạo hình theo chủ đề cánh thiên thần và vầng hào quang.

Và không chỉ có những Thiên Sứ nổi tiếng.

Các Thiên Sứ giống như loại mà sư phụ tôi đã cho tôi xem - tôi đã tìm hiểu về chúng trước khi rời Luân Đôn - khác xa so với hình ảnh thường miêu tả Thiên Sứ như những sinh thể thần thánh, thậm chí một số có hình dáng hao hao giống quái vật cũng được trưng bày. Các Minh Thần [Cherubim] bốn mặt bốn cánh kỳ dị, và các con rắn sáu cánh được gọi là Luyến Thần [Seraphim].

Với hình thù và kiểu dáng đa dạng, số lượng thiên sứ đặt quanh đây có khi phải đến vài trăm.

Khi ngắm nhìn, một cảm giác nhức nhối kinh khủng dâng lên trong tôi.

Không thể nào mà những thứ như thế này lại được xem như một bộ sưu tập đơn thuần. Không, nếu nó chỉ là một bộ sưu tập nghệ thuật thì không có lý giải nào cho áp lực bí ẩn mà nó tạo ra, xét đến niên đại và độ bền của nó. Như thể ai đó say mê quá mức với niềm đam mê của mình, và chúng tôi vừa bước vào trong phòng sưu tầm cá nhân của người đó. Hoặc có lẽ là bước thẳng vào bên trong trí óc của người đó.

Nếu vậy, điều đó làm cho nơi này-

-giống như não bộ vậy.

Áp lực của căn phòng có vẻ nặng và dính. Tôi vô tình vấp ngã, chống cả hai tay lên sàn đá. Tôi bắt đầu thấy vô cùng khó thở. Sự rúng động mà tôi cảm thấy khi lần đầu thấy tòa lâu đài trở nên càng lúc càng tệ hơn. Tôi cảm thấy như thể mình đang chìm trong đầm lầy. Và trong đầm lầy ấy có rất nhiều con mắt nổi lềnh bềnh, theo dõi chúng tôi chìm xuống. Không thể tránh được sự quan sát ấy. Với cái cảm giác như vĩnh hằng, tôi không cảm thấy gì ngoài cảm giác rơi vào trong bộ óc của Thiên Sứ.

"Đó là một ảo giác."

Tôi nghe thấy một tiếng nói. Tôi thậm chí không thể biết được nó phát ra từ đâu.

"Tiểu thư à, đây không phải ma thuật. 'Màu' của nơi này chỉ hiện diện với khả năng cảm nhận tự nhiên của trò. Trò chỉ đang gục ngã bởi chính khả năng của mình. Dù nó là gì thì chỉ cần tạo một định hướng mới cho nó. Trò đã học nguyên tắc cơ bản của Mặc Tưởng rồi đúng không?"

Mặc Tưởng? Tôi không biết gì về điều đó. Về vấn đề đó, tôi còn không biết mình đang ở đâu nữa.

…Nhưng mà. Một mùi đặc trưng xông vào mũi tôi.

Mùi này như đang len lỏi sau đầu tôi - và khi tôi ngửi mùi hương quen thuộc ấy, sàn đá dưới chân tôi trở lại. Chỉ còn có áp lực dính, nên tất nhiên là không có những con mắt trôi nổi. Tôi có thể nghe thấy chính hơi thở nặng nhọc của mình, và cảm thấy mồ hôi khó chịu trên da mình.

Nhìn xuống tôi, sư phụ tôi rõ ràng là đang bắt đầu hút xì-gà.

"Trò đã thấy điều gì?"

"…A, ừm… một đầm lầy chứa đầy não bộ, và những con mắt nhìn em…"

"Ra thế. Luyện tập Mặc Tưởng lẽ ra nên nằm trong những việc đầu tiên mà chúng ta cần chuẩn bị, nhưng ta thấy là mình sẽ phải thêm nó vào bài tập về nhà của trò khi chúng ta trở về."

"Ự…"

Bực thật, nhưng tôi không thể cãi lại.

Nhả ra khói thuốc xì-gà, sư phụ tôi dời ánh mắt sang trung tâm của tiền sảnh.

"Tất nhiên, những người khác tập trung tại đây đều không rơi vào cái triệu chứng 'tăng thông khí' này đâu nhỉ?"

Bên cạnh tôi, Flue cũng nhìn vào trong sảnh. Lập tức, ông ta nhìn tránh đi chỗ khác. Dõi theo ánh mắt của sư phụ tôi, gần bên cầu thang xoắn trong tiền sảnh, chỉ có một người đang tiếp cận chúng tôi.

"Uầy!"

Cùng lúc mà Flue nhanh chóng thoái lui đằng sau cây cột gần đó để trốn, người kia tiến đến chào sư phụ tôi.

Mái tóc vàng và đôi mắt xanh dương.

Dựa theo vẻ bề ngoài, anh ta có vẻ là một chàng trai nổi bật. Anh chỉ trông khoảng đôi mươi, nhưng lại mang một vẻ tự tin và dày dạn không hợp với độ tuổi của mình. Từ bộ đồ trắng không tỳ vết đến cà-vạt đính những viên đá quý, đến cử chỉ bình tĩnh thư thái, nét nam tính của anh dường như thuộc một đẳng cấp khác.

"Đã lâu không gặp ngài, Lord El-Melloi-sama."

"Hãy kèm 'Đệ Nhị' vào. Nếu cứ để nguyên thì đó là một cái tên này quá nặng gánh đối với tôi."

"Ngài quá khiêm tốn rồi. Tôi đã nghe nói về các hoạt động của ngài trong Tháp Đồng Hồ rồi."

Không chỉ đơn thuần là anh ta đang lịch sự, giọng nói của anh đem đến một sự chân thành dễ chịu đối với người nghe. Giọng nói đó như biểu thị sự từng trải của anh. Chắc chắn anh đã từng đối mặt với đủ mọi chướng ngại trong đời đều với sự thẳng thắng này.

"Anh quá lời rồi. Với danh tiếng của anh tại Tháp Đồng Hồ, Hiệp Sĩ Heine Istari lừng lẫy hơn nhiều so với tôi."

"Nhưng tôi có được nhận cái danh hiệu đó từ Nữ Hoàng điện hạ đâu chứ."[8]

Lời đùa của sư phụ tôi được đáp trả một cách mạnh mẽ và nhanh chóng.

Khi tương đối lấy lại được bình tĩnh thì tôi cũng đã lùi ra hơi xa một chút khỏi hai người họ, tôi quay sang chỗ Flue nấp.

"…Anh ta nổi tiếng ư?"

"Hê, sao cô lại không biết chứ? Cô là môn đệ của El-Melloi cơ mà."

"…Tôi chỉ quen biết ngài và gia nhập Tháp Đồng Hồ mới gần đây thôi."

Trước lời thú nhận thật thà của tôi, Flue buông một tiếng thở dài.

Ông đang phải lo ẩn nấp nên không việc gì phải trả lời tôi, nhưng cách mà ông thật thà đáp lại câu hỏi của tôi khiến tôi nghĩ ông là một người tốt theo nét riêng của mình.

"Istari là gia tộc có tiếng tăm về giả kim thuật, nhưng riêng Heine lại là một trường hợp thú vị. Từng có một thời gian, anh ta đã quay lưng lại với cuộc đời pháp sư và trở thành tu sĩ của Giáo Hội."

"Giáo Hội?"

Trong trường hợp này, từ "Giáo Hội" không mang ý nghĩa "phổ biến" như một tôn giáo lớn. Sự tồn tại ở mặt sau của nó, một tập đoàn có mục đích chủ yếu là "bài trừ dị giáo". Nó là một trong số rất ít các tổ chức vượt trên Tháp Đồng Hồ về quy mô. Lập trường của họ đối với việc sử dụng các phép Thần Bí thì có nhiều khác biệt so với Tháp Đồng Hồ, nên hai tổ chức này thường xung khắc lẫn nhau. Đối với pháp sư, nó là thứ mà họ không ưa ngay cả khi bàn đến.

Về phần tôi, Giáo Hội là tổ chức mà tôi quen biết nhiều hơn so với Tháp Đồng Hồ.

"Ừ, vậy thì, tại sao anh ta quay trở lại làm pháp sư?"

"Vì không muốn tài năng của anh ta bị lãng phí, nên gia tộc của anh ta kéo anh ta quay lại."

Thấy được gương mặt sáng lên của tôi, Flue hơi cong môi một chút.

"Bởi thế mà mối quan hệ giữa Giáo Hội và Tháp Đồng Hồ lại càng thêm phức tạp, và từng có lúc mà mọi chuyện thật sự trở nên nguy kịch. Nhưng tôi cho rằng điều đó chỉ nói lên rằng anh ta giá trị như thế nào. Nhà Istari chắc là phải tự hào lắm."

Chắc chắn như thế có nghĩa là người đấu tranh để rút ra khỏi Giáo Hội chính là Heine Istari.

Nhằm mục đích bảo vệ nguyện vọng của Chúa, năng lực chiến đấu của Giáo Hội được rèn luyện đến cấp độ vượt trên những hiểu biết thông thường. Nếu anh ta đã sử dụng chính ma thuật của mình để đánh bại các sát thủ bậc thầy của Giáo Hội thì chẳng có gì ngạc nhiên khi anh cũng nổi tiếng ở Tháp Đồng Hồ. Riêng chuyện này thôi, anh tỏ ra là một người bất phàm - không chỉ như kỳ tích của thiên tài, mà là như một ấn tượng gần giống với đại họa.

…Nhưng, điều đó…

Tôi còn nghĩ về một điều khác.

Thật ra những sát thủ mà anh ta tự tay đánh bại vốn là chiến hữu trước đây của anh – Dư vị gì nằm lại trong lòng Heine Istari?

Khi tôi ngẫm nghĩ đến đó-

"…Onii-sama."

Một cô bé, mặc bộ áo đầm trắng, thò đầu ra từ phía sau cầu thang xoắn nơi em đang nấp. Với một thái độ rụt rè khiến tôi liên tưởng đến một con chim nhỏ, em chắc khoảng 8 tuổi. Chàng trai này dành cho em ấy một nụ cười dịu dàng.

"Không sao đâu, Rosalind. Lord El-Melloi II là người tốt."

"…V-Vâng ạ."

Sau khi chạy sang chỗ người anh, cô bé cúi đầu một chút.

"Em là em gái của anh ấy, Rosalind Istari. Hân hạnh được gặp ngài."

Với sự e thẹn đến giờ trông như có thể ngất bất cứ lúc nào, cô bé chào ngài.

Thấy em bắt đầu ho và lập tức đoán là do khói thuốc, sư phụ tôi vội vàng bỏ điếu xì-gà khỏi miệng và cất lại vào trong hộp, rồi nhận được cái gật đầu cáo lỗi của Heine.

"Vậy, kia là-"

Ngẩng đầu lên, anh ta nhìn về phía tôi, dường như cùng lúc đó, Flue bây giờ cũng lọt vào tầm mắt của anh. Thấy Flue che mặt bằng một tay khi bị phát hiện, sư phụ tôi hỏi Heine.

"Anh có biết Flue không? Chúng tôi gặp anh ta trên đường đến đây, và anh ta quyết định đi chung với chúng tôi."

"…Có chứ."

Anh chàng gật đầu.

Thái độ dễ chịu mà anh giữ đến lúc này nhanh chóng biến mất, giọng anh giờ mang một vẻ tàn độc và bất nhân.

"…Có chứ. Nếu ý anh muốn nói đến gã Chiêm Tinh Thuật Sư Flugger 'Kẻ Diệt Sư Phụ'. Thì có, tôi có biết đôi chút đấy."

***

Cuộc chạm trán tại tiền sảnh kết thúc chỉ khoảng vài giây.

"Thứ lỗi cho tôi. Đây không phải nơi để bày tỏ cảm xúc cá nhân."

Chàng trai xin lỗi và rút lui.

-Này! Xem ra quý ngài Hiệp Sĩ không chỉ là đứa to đầu mà dại!

Tiếng nói bên tay phải tôi vang lên.

Flue cười gượng, vẫy tay xin lỗi.

"Tôi xin lỗi, Rosalind. Tôi không làm cô sợ chứ?"

"K-Không…"

Cô bé gan dạ lắc đầu. Tất nhiên, dễ nhận thấy được sự giả bộ lẫn trong cảm xúc của em, nhưng như để tránh chỉ ra điều này, Heine chỉ vuốt mái tóc của em. Anh có vẻ là một người anh trai tốt. Điều đó có ý nghĩa gì trong thế giới pháp sư thì chưa rõ. Nhưng tôi thật sự cảm thấy rằng hai người họ vì thế mà đã gặp phải không chỉ sự thù địch.

"Nhân tiện, ngài cũng được mời nhỉ." Heine hỏi sư phụ tôi.

"Đúng vậy, một phần là nghĩa vụ xã hội. Tôi giữ một khoảng cách tương đối với các gia tộc có quan hệ khăn khít với người tiền nhiệm của tôi, nhưng chủ nhân của lâu đài này là một trong số ít các ngoại lệ."

"Vậy dù sao cũng là về chuyện đó."

"Phải." Sư phụ tôi gật đầu.

"Một tháng trước, Geryon Ashborn, chủ nhân của Lâu Đài Biệt Cư Adra đã qua đời."

"..."

Tôi cảm thấy một cơn lạnh sống lưng.

Nhớ lại bộ sưu tập Thiên Sứ mà chúng tôi chỉ mới thấy một góc nhỏ, áp lực bám dính khi ấy bắt đầu thấm vào sau đầu của tôi lần nữa. Ý nghĩ về người sưu tập chúng giờ đây đã chết khiến cho nó càng thêm giống với khu vườn của thần Hades, nổi bật với một nét đẹp mà tà ác, cảm giác như nó không thuộc về thế giới thực tại.

"Em ổn chứ?"

"…Vâng." Tôi cố gắng gật đầu. "Em… không biết chuyện đó."

"Ra thế."

Bằng sự lạnh nhạt như thể cụt hứng, sư phụ tôi lấy ra một lá thư từ túi trong của áo jacket. Nó giống hệt lá thư mời mà Flue đã cho chúng tôi thấy lúc trước.

"Nó được gửi đến chỗ chúng tôi một tuần trước."

"Phải, bên tôi cũng vậy." Heine gật đầu.

"Vậy thì nó cũng nói về chuyện thừa kế?"

"Phải." Heine lại gật đầu.

"Tôi nghe nói di chúc chi tiết về việc thừa kế Lâu Đài Biệt Cư đã được công bố. Ashborn không có họ hàng máu mủ, nên tất cả gia tộc có liên quan đến ông ấy đều được mời. Chuyện này có vẻ càng kỳ lạ hơn khi những pháp sư tập trung tại đây quá ít."

"Đó là sở thích của pháp sư cao tuổi chăng?"

Bằng cái nhìn chán nản, sư phụ tôi lắc đầu.

"Ông ấy buộc lòng phải biến ngay chính cái chết của mình thành một cuộc chơi nữa."

"…Ô? Có phải điều đó làm phật lòng Lord mới toanh đây không?"

Tiếng nói lần này đến từ sâu trong sảnh. Bên cạnh cầu thang xoắn mà Heine và Rosalind đứng gần còn có một cầu thang xoắn khác. Tại cầu thang thứ hai này, một người mới tiến đến chỗ chúng tôi.

Âm thanh kim loại cọ vào nhau vang khắp căn phòng. Mất một lúc để nhận ra đó là tiếng ghế xe lăn.

"Ngài Orlocke."

Một sự căng thẳng khác thường xuất hiện trên mặt sư phụ tôi. Một ông già tóc bạc ngồi trên xe lăn. Đằng sau ông là một cậu bé đẩy xe cho ông, nhưng lại tránh chạm phải ánh mắt của những người khác trong phòng.

Với nhiều nếp nhăn hằn sâu, ông tỏ ra ít giống một pháp sư và nhiều ấn tượng giống với một xác ướp. Ít ra về mặt tuổi tác thì ông chắc phải ngoài 80. Mỗi ngón trong mười ngón tay gầy guộc như que gỗ, là một chiếc nhẫn quý hiếm. Vẻ lộng lẫy của mười cái nhẫn khiến cho tuổi tác trên thân thể già nua của ông càng rõ ràng hơn.

Ông trông như một thứ thuộc về Lâu Đài Biệt Cư này. Như thể bất chấp bản thân là một người, ông đã bước một bước vào quá trình trở thành thứ gì đó khác-

"…Ai đây?"

"Orlocke Caesarmund. Ông ta là người đi tiên phong trong lĩnh vực 『Ma Thuật BướmPapilio Magia』. Thỉnh thoảng ông ta phát biểu trong các cuộc họp tại Tháp Đồng Hồ."

"Khư khư, khư khư khư, khư khư khư khư khư."

Trước khi tôi có thể hỏi thêm chi tiết, người được nói đến cười rất dài. Nhưng không chỉ là cười, nó nghe giống như ông ta chỉ đang ép không khí ra khỏi phổi. Nó làm liên tưởng đến gió thổi ra từ một cái hang khô.

Papilio Magia, sư phụ tôi gọi như vậy.

Theo như lời ngài, nó là một ma thuật nhằm sử dụng phép Thần Bí phỏng theo quá trình một con sâu bướm biến đổi thành bươm bướm - bằng việc tạo ra một con nhộng, phân giải toàn bộ cơ thể, và tái tạo thành một thứ mới.

Ngược lại với cái tên ma thuật mỹ miều ấy, người sử dụng nó chỉ toát ra sự tà ác. Sự hiện diện của ông như một thứ bùn đen chảy trên sàn đá.

"Lord El-Melloi II," Ông già nói nhỏ. "Lord El-Melloi II, Lord El-Melloi II, Lord El-Melloi II? Dù vậy đi nữa, làm một Lord trong khi bản thân vẫn còn chưa được thăng lên quá cấp Fes, sao ngươi còn dám thò mặt ra trước mọi người hả? Chưa kể lại còn là trong lâu đài của Geryon, người bạn kính mến của ta nữa chứ."

Fes, cấp bậc của sư phụ tôi tại Tháp Đồng Hồ, cấp bậc thứ tư.

Lại cười nữa, ông già bắt đầu gõ lên tấm da trên tay vịn của xe lăn. Dường như đấy là một thói quen của ông, khi mà tay vịn cũ kĩ rõ ràng đã bị phai màu ở chỗ mà ông tỳ vào.

Sư phụ tôi không đáp một lời nào. Từ đầu, ngài đã nhận thức rõ mình kém cỏi thế nào. Dẫu vậy, nói ra điều đó trước mặt nhiều người thì quả thật sẽ tạo ra cảm giác muốn bệnh phía dưới dạ dày của ngài.

Đặt một tay lên ngực, ngài hơi cúi người đáp lại.

"Tôi hoàn toàn nhận thức về sự non kém của mình. Cho dù chỉ nhận cái danh này tạm thời, tôi cũng mong ngài bỏ qua cho, thưa Ngài Orlocke."

"…Hừm. Một Lord không nên cúi đầu một cách dễ dãi như thế. Ngươi đang hạ nhục truyền thống về địa vị của mình đó." Nâng mấy ngón tay khỏi tay vịnh, ông ta chỉ ra điều đó với một giọng buồn chán.

Sau đó-

"Tạm thời hãy để cậu ta giới thiệu cái đã."

Bằng ánh mắt, ngài ra dấu phía sau lưng mình.

"-Ồ! Ở đây có người đẹp này!"

Vừa nói vừa nhìn Rosalind và tôi, một chàng trai trẻ mặc bộ đồ kỳ lạ xuất hiện. Anh ta hình như cỡ tuổi Heine, vào khoảng đôi mươi, và có đeo một tấm bịt mắt bên phải. Điều kỳ lạ không phải là tấm bịt mắt của anh. Mà hơn thế là chiếc hộp nhỏ buộc chặt trên đầu anh, loại áo làm từ sợi gai dầu trắng tinh, và con ốc xà cừ đeo trên cổ. Về sau, tôi được bảo rằng đó là trang phục của phái Shugendou, một tôn giáo địa phương ở vùng Viễn Đông.

"Yamabushi, Tokitou Jiroubou Seigen, hân hạnh được phục vụ mọi người!"

Bằng giọng tiếng Anh quá nặng, anh ta tự giới thiệu bản thân.

Bất chấp sự thật rằng trang phục của anh trông rất lạ lẫm đối với quốc gia mà anh hiện đang ở, anh lại có vẻ phù hợp với nơi này. Có lẽ bởi vì nơi này thuộc về giới pháp sư.

"Trang phục đội đầu đó được gọi là Tokin phải không? Nếu tôi nhớ không lầm, nó tương tự như Tefillin [hộp đựng kinh] trong Do Thái Giáo."

"Hê, hiểu biết khá đấy nhỉ? Có lẽ nó phổ biến hơn là ma thuật Châu Âu, nhưng thậm chí ở Nhật Bản, chúng cũng khá ít gặp." Anh suýt xoa ngưỡng mộ. Dù vậy, ánh mắt và tư thế của anh vẫn hướng về Rosalind và tôi.

"Vậy, mọi người có muốn dùng trà không? Quản gia nói họ đã chuẩn bị sẵn loại trà ngon nhất cho chúng ta."

"..."

Khom người và xoa hai tay vào nhau, anh ta đưa ra lời mời, tuy nhiên, Rosalind khẽ bám sau lưng Heine, lại càng dễ làm liên tưởng đến búp bê Pháp.

…Ngay cả tôi, vì nhiều lý do, cũng lướt ra sau lưng sư phụ tôi và dùng ngài làm lá chắn. Vào những lúc như thế này, tôi thấy có chút vui mừng rằng ngài cũng khá cao ráo.

Sư phụ tôi có chút sững sờ.

"Yamabushi là các tu sĩ hiến dâng thân mình cho thần linh, đúng không? Trên hết, phái Shugendou coi phụ nữ là không trong sạch, đúng không?"

"Ha ha. Tín ngưỡng và sở thích của tôi khác nhau, thấy không? Cộng thêm, đó là chuyện khi tôi ở trên núi cao, nhưng ở ngoại quốc, tôi không cần phải gượng ép bản thân. Nên, sao chúng ta không làm quen với nhau một chút nhỉ, các quý cô?"

"…Ừm, thật ra…"

Khi tôi ngần ngại lùi xa hơn nữa-

"Tôi e là chúng tôi buộc phải từ chối. Như anh thấy đó, em gái tôi rất không bằng lòng về anh."

Heine xen vào cuộc nói chuyện. Giọng nói của anh đầy sự cương quyết, như muốn nói rằng anh không cho phép bất cứ ai đụng đến em gái mình.

"Ừm, cẩn thận đấy, ông anh. Nếu anh bao bọc quá kỹ, tiểu thư đây cũng sẽ ghét anh đấy, biết chứ?"

"Xin lỗi nhưng không đời nào có chuyện Rosalind ghét tôi được đâu."

"Òa, rất tự tin đấy nhỉ!"

Nhanh chóng lùi ra, Seigen đưa tay ra sau lưng. Đột nhiên, thứ gì đó lao ra từ tay anh ta. Theo một đường vòng cung đáng kinh ngạc, nó tiếp cận điểm mù của Heine và tấn công vào lưng anh ta. Nó di chuyển không một tiếng động, và lại còn với một sự hung hăng có thể thách thức một con dã thú.

"Oni-sama!"

Trước tiếng kêu của Rosalind, Heine giơ một tay lên.

"-là chiêu thức Shugendou, 『Phi BátHihatsuhou』?"

Heine nói trong khi vẫn giữ vẻ mặt vô cảm. Ngoài vệt đỏ chảy dọc từ bàn tay, anh còn giữ một chiếc đĩa sắt nhỏ gần bằng bàn tay của mình.

"Ha ha, anh nhanh nhạy thật! Đây là chiêu thức mà Taichō[9] sử dụng rất điêu luyện. Mặc dù không được nổi tiếng như ngài En no Ozuno. Nó là chiêu kỹ mà ông ta sử dụng trong khi 'hành khất'."

Tôi cũng đã nghe nói về "hành khất" của nhà sư này. Đó là một bài thực hành mà các nhà sư thực hiện để nhận bố thí tiền và thức ăn từ các tín đồ khác. Trong trường hợp ấy, nó khiến cho chiếc đĩa thành bùa chú thuộc về Tokitou Jiroubou Seigen. Nghĩa là Hihatsuhou là một sức mạnh siêu nhiên giúp cho anh điều khiển chiếc đĩa một cách tự do.

"Đúng vậy, anh đã cho tôi thấy một thứ hay ho."

Heine gật đầu với Yamabushi, người đang vừa gãi đầu vừa cười.

"Bình tĩnh, bình tĩnh đi. Tôi chỉ giỡn một chút thôi mà."

"Nếu chúng ta chỉ đang giỡn, thì tôi chắc chắn cần phải đáp trả lại anh."

Heine chạm một ngón tay vào viên đá quí trên chiếc cà-vạt.

"Lưu ChuyểnConvert."

Anh nói thầm trong khi gõ lên sàn nhà bằng một mũi giày của mình.

Tức thì, vô số lưỡi gươm vươn ra từ sàn đá. Không phải các lưỡi gươm xuyên qua sàn nhà, mà chính sàn nhà tự biến hình thành các lưỡi gươm. Như một cơn sóng lướt đi từ vị trí mà chân của Heine gõ lên sàn nhà, một tấm thảm gươm tự điều hướng và thi nhau lao về phía Seigen.

"Oa!"

Seigen nhảy lên. Như thể bỏ qua chính trọng lực, thân thể anh bay cao vài mét trên không trung một cách bất bình thường.

Sư phụ tôi về sau nói lại với tôi rằng nhìn chung thì đây là một điển hình về chiêu thức Shugendou khá nổi tiếng, một ma thuật được truyền dạy trong môn phái của tôn sư En no Ozuno, được gọi là Ô Nha Thăng hoặc Thiên Cẩu Thăng. Nếu đạt đến tối cường, có thể nói nó rất gần với Ma Pháp Chân Chính, một kỹ năng gần như là dịch chuyển tức thời. Với chiêu thức này, Seigen thoải mái bay và đáp lên chùm đèn treo trần.

"Ư-ha ha ha, thấy sao hả?!"

Yamabushi khoanh tay với vẻ đắc ý, nhưng Heine lẳng lặng chỉ một ngón tay lên ngực anh.

"Nó đây này. Tôi không có chút thành tín nào với Thần của anh, nhưng vì anh đã cho tôi thấy thứ hay ho, nên đây là điều ít ỏi mà tôi có thể làm."

"Hử?"

Nhanh chóng nhìn xuống, những lưỡi gươm đá rung rinh quanh vòng tay khoanh lại của Seigen.

Những lưỡi gươm đã vỡ tan thành từng mảnh. Không, chúng là những cánh hoa. Những lưỡi gươm hóa thành hàng trăm cánh hoa đá, giờ đây đang tô điểm cho tiền sảnh. Cảnh tượng khiến cho mọi người kinh ngạc chỉ tồn tại trong vài giây. Ngay sau đó, nằm trên vòng tay khoanh lại của Seigen là chiếc đĩa mà anh ta vừa phóng ra lúc nãy.

Mặt trên của chiếc đĩa là một bông hoa đá, và một tờ tiền mười £ [Pound].

"Ồ, trông này."

"Ồ?"

Orlocke và Flue cùng nhìn xuống bàn tay của họ. Cả trên tay vịn của ông pháp sư già và đầu ngón tay của Flue đều có những bông hoa hồng bằng đá.

"…A."

Trên áo jacket của sư phụ tôi và áo choàng của tôi cũng vậy, cũng có đính một bông hoa đá.

Thay vì như ma thuật, nó trông giống một mánh ảo thuật tài ba hơn. Bông hoa đá mượt mà, trong veo và mềm mại, nhìn như thể chỉ cần chạm vào là nó sẽ sống lại. Một thứ đối nghịch, vừa trông như đang sống mà vừa không để lại ấn tượng mạnh mẽ.

Thứ chết chóc hơn cả xác chết.

Thứ sống động hơn cả người sống.

Ở quê hương tôi, đấy là một cảnh tượng mà tôi đã thấy nhiều lần. Những thứ ngớ ngẩn, phi lý, không sống mà cũng chẳng chết.

"-Đó là thứ mà ta phải tiêu diệt. Thứ đó. Thứ đó. Chỉ có thứ đó."

Nhớ đến mùi đất và đá từ một nơi khác, một cảm giác chua chát của sự chối bỏ và trở mặt dâng đầy trong miệng tôi. Tôi bị trói buộc bởi sự tê cứng lan đến các đầu ngón tay, và cảm giác như say xẩm ập vào trong tâm trí. Những hồi ức ấy chẳng liên quan gì đến nơi này. Như một câu chú, tôi nhẩm đi nhẩm lại những lời này trong đầu.

"Vậy ra đây là giả kim thuật của nhà Istari?" Sư phụ tôi thì thầm, cầm lấy một trong những bông hoa đá bằng các ngón tay, khi mà tôi bắt đầu hít thở sâu.

"Giả kim thuật… từ Học viện Atlas, phải không ạ?"

Trong giới pháp sư, tôi được nghe bảo rằng khi nói về giả kim thuật tức là nói đến Học viện Atlas. Một trong ba tổ chức pháp sư lớn mạnh ngoài Tháp Đồng Hồ, nó là một tổ chức biệt lập với thế giới bên ngoài, được biết đến như một "địa ngục trần gian". Thật lòng thì tôi không biết rõ điều đó có ý nghĩa gì nhưng-

"Đó là một dòng họ giả kim thuật khác với giả kim thuật của Học viện Atlas. Không như họ, giả kim thuật được đưa vào Tháp Đồng Hồ đã phát triển sau khởi nguồn của giả kim thuật tại phương Tây vào thời Trung Cổ. Biểu tượng 'Đá Sống' của nhà Istari có thể sánh ngang với những vũ khí của các Anh Linh hạng yếu, nhưng nó thật sự được xem là một tài năng đáng kể."

Đôi mắt của sư phụ tôi nheo lại với một góc độ khó thấy được.

Khi nói về tài năng, ngài thường làm thế với một vẻ ngờ vực lộ liễu. Nó chắc chắn là thứ không thể chạm đến. Nhưng như thể ngài đang nói với các vì sao trên trời, sự sốt sắng của ngài thỉnh thoảng lộ ra.

Tiếp theo đó-

"-Òa!"

Seigen lướt gọn ghẽ khỏi đèn chùm.

Bằng một âm thanh khá lớn, anh ta té xuống nền nhà. May mắn thay, những lưỡi gươm đá đã biến mất, nên anh chỉ bị đau hơn một chút so với đòn đánh vật lý.

"…Ao-Auu…"

Xoa lưng cùng với tiếng rên rỉ, anh giơ tay một cách khó nhọc.

"Tôi chịu, tôi chịu! Nếu chúng ta thử tài nhau như thế này, tôi không có cửa thắng." Vẻ mặt bông đùa của anh ta không có chút tức tối nào.

Bằng một nụ cười bình thản, Heine chìa tay ra với anh.

"Rosalind thì không được, nhưng nếu anh đồng ý, tôi rất hân hạnh nhận lời mời dùng trà của anh."

"Tôi không hứng thú gì với đàn ông. Nhưng mà ừ thì, một anh chàng điển trai như anh thì cũng được, tôi nghĩ vậy."

Với một nụ cười, Seigen cũng chìa tay.

Giọng nói của cả hai đều ôn hòa khiến tôi bị bất ngờ. Dường như họ đã hình thành một loại giao hảo từ sau trận đấu ngắn ngủi. Ừ thì, tôi chưa bao giờ đấu với một địch thủ mà mình thấy thú vị từ trước, nên có lẽ nó vốn là chuyện mà tôi không lường trước được.

-Ê! Gray!

Đột nhiên, tiếng nói bên tay phải tôi vang lên. Tiếng nói âm thầm mà chỉ có tôi mới nghe được, nhưng đầy sự khẩn trương.

Tôi quay mặt sang hướng mà chúng tôi đã đi qua, lối vào tiền sảnh.

"Xem ra tôi là người đến sau cùng nhỉ?"

Cùng với một người hầu nam kề cận phía sau là một người mới đến có giọng nói kiêu ngạo.

Bộ áo đầm màu lam sáng của cô làm liên tưởng đến màu xanh của bầu trời. Một chiếc nơ cùng màu buộc trên mái tóc vàng óng của cô, và trong tay cô là một chiếc dù xếp màu ngà. Họa tiết đặc biệt trên chiếc dù không thể thấy rõ từ khoảng cách này, nhưng chỉ nhìn sơ qua cũng nhận thấy rằng chỉ một chiếc dù này cũng có thể đáng giá bằng một hai chiếc xe hơi.

Trên tất cả, dung nhan đó khiến cho người ta chỉ có thể nghĩ rằng tạo hóa đã trút cả linh hồn mình vào việc tạo nên nó.

Seigen phát ra tiếng thở trầm trồ có thể nghe thấy được. Không, lần này thì không chỉ có Seigen. Không kể như Heine và Flue, ngay đến Rosalind và tôi cũng không thể không bị hớp hồn bởi vẻ ngoài ấn tượng của cô gái này.

Cô chắc không quá 17 hoặc 18 tuổi, nhưng vẫn thu hút mọi ánh mắt trong căn phòng.

"…Vậy là ngươi cũng tới. Có phải mùi kho báu sáng chói dẫn dụ ngươi bước vào đây?" Ông già ngồi xe lăn bật nói với giọng khó chịu.

Như tiếp nhận lời phàn nàn của ông-

"Có vấn đề gì sao, lão già?" Cô thách thức với một vẻ hoa mỹ.

Dáng điệu tiến đến của cô trông như thể cô vốn là chủ nhân của nơi này.

Trong cổ họng ông già, một tiếng cười nghe như dung nham sôi sục vọng ra từ địa ngục.

"…Ô hô, vấn đề chính là với dòng máu ti tiện của ngươi đấy, Luviagelita Edelfelt."

"Ông quá khen rồi."

Cô gái trong bộ áo đầm xanh dương, Luviagelita, đáp trả câu nói đó với một nụ cười.


Chú ThíchEdit

  1. Luyện Ngục: theo Công Giáo, là nơi người sau khi chết trải qua quá trình rửa tội. Kẻ nào tội nặng sẽ đi tiếp xuống Địa Ngục, người nào rửa hết tội thì được lên Thiên Đàng, song cũng có kẻ mãi mãi kẹt lại ở Luyện Ngục.
  2. Hades là thần chết trong thần thoại Hy lạp.
  3. Giai thoại kể rằng theo luật xưa tại một số chợ như Bermondsey, hàng hóa được bán vào khoảng thời gian sau khi mặt trời lặn và trước lúc mặt trời mọc thì không bị tra xét; luật này đã bị bãi bỏ từ năm 1995.
  4. Beryl là khoáng thạch có màu sắc khác nhau tùy thuộc vào thành phần pha tạp trong nó.
  5. Samothraces là khu tự trị ở phía Đông Bắc Hy Lạp.
  6. Medusa là một nữ quỷ Gorgon có khả năng làm hóa đá bất cứ người nào nhìn vào mắt nó.
  7. Drinking bird: đồ chơi hình con chim vận hành theo nguyên lý nhiệt động lực học. Khi mỏ chim ướt, chim lắc lư tới lui. Khi hết lực tác động, mỏ chim gục vào ly nước, được thấm ướt và chim lại tiếp tục hoạt động.
  8. Ở Anh, tước Hiệp Sĩ là do Vua hoặc Nữ Hoàng phong. Ý Heine muốn nói cái tên "Hiệp sĩ" của mình chỉ là biệt hiệu chứ không phải tước vị thực sự.
  9. Taichō là thầy tu phái Shugendou được xem là người đầu tiên chinh phục núi Haku (Bạch Sơn) vào năm 717.